
LOẠN HỌP
Hè năm 1976, tôi được Hội Văn nghệ và Ty Giáo dục Thái Bình cho đi dự trại viết văn tại Thái Đô (ven bờ biển Thái Thụy, Thái Bình). Một tối, mấy anh em ngồi trên đê biển hóng mát, tôi được nghe một cô giáo kể về việc “hành” giáo viên của ông Hiệu trưởng trường cô mà tôi thấy quá bất bình. Giáo viên đã soạn bài chấm bài, lên lớp 1 ngày hơn 8 tiếng rồi mà tối nào cũng phải họp. Chủ nhật cũng không được nghỉ. Ông luôn khắc nghiệt và gò ép giáo viên. Mọi chi tiêu trong trường đều hạn chế và gò bó. Có thể nói, giáo viên không được tự tiện động đến lá cây, ngọn cỏ của nhà trường. Ví dụ: Lá cây rụng xuông sân, ông điều học sinh quét gọn lại, phơi khô, cho giáo viên đấu giá để nấu nước gội đầu. Mùa lạnh, muốn gội đầu nước nóng không được dùng than của trường. Tối hôm ấy, tôi trăn trở không ngủ được bèn thức viết bài cho báo “Người giáo viên nhân dân”. Tôi nhớ đến một tác phẩm có tên là “Loạn họp” của Mai-a-kốp-xki liền mượn luôn để đặt đầu để bài viết. Viết theo thể lục bát như sau:
Tối Chủ nhật họp Hội đồng
Tối thứ Hai phải họp Công đoàn Trường
Thứ Ba, Năm, họp bất thường
Thứ Tư lên đường xuống nhóm học sinh
Thứ Sáu Họp Đoàn giáo viên
Mỗi tuần sáu tối họp liền – Lệnh ông.
Ai kêu, ai nói mặc lòng,
Không đủ sáu tối là ông phê liền.
Thi đua hai tốt đi lên
Chạy quanh chất lượng vững bền được đâu.
“Loạn họp” lỗi thời từ lâu
Ông chớ “mọc rễ trên đầu” hỡi ông.
22 – 7 - 1976
Viết bài xong, hôm sau tôi ra bưu điện gửi ngay cho tòa soạn. Tới số báo ra ngày 10-10-1976 thì được đăng nhưng Ban biên tập đã chuyển lục bát thành văn xuôi và các ý câu thơ thành những gạch đầu dòng. Thêm một vài việc nữa, kí chung là ỐNG KÍNH NHÀ GIÁO.
Không có tên nhưng Tòa soạn vẫn trả nhuận bút cho tôi. Hẳn 6 đồng (Lương tôi lúc đó có 65 đồng/ tháng). Nhận được báo biếu và nhuận bút, tôi thú vị lắm. Thế là báo đã đăng bài mình, và thế là điều mình bức xúc đã đến với đồng nghiệp và độc giả.
Hơn 43 năm rồi. Bây giờ ngẫm lại vẫn thấy thú vị.
Cổ Nhuế, ngày 20 – 3 - 2020
Tôi đã mê đọc sách ngay từ thuở học cấp I. Nhà nghèo, chẳng có tiền mua sách. Bố tôi nhặt ở đâu được cuốn “Thạch Sanh”, “Phạm Công, Cúc Hoa” và một cuốn “Tam Quốc diễn nghĩa” (dày bằng 3 tập của NXB Phổ thông sau này), có tranh minh họa khá đẹp. Tôi đọc, xem tranh nhiều lần. Thuộc gần hết cuốn “Phạm công, Cúc Hoa”. (Thuộc lời thơ và cốt truyện thôi). Nhớ khá nhiều đoạn “Tam quốc”. Tôi rất căm ghét Thái Sư ác độc, yêu mến Phạm Công văn võ song toàn, thú vị cảm phục anh em Lưu, Quan, Trương, ghét Đổng Trác, Tào Thảo gian hùng v…v…. Bác Nguyễn Ngọc Riệm, trưởng họ tôi có cuốn “Truyện Kiều”, thường xuyên ngồi máy khâu, thỉnh thoảng đọc. Tôi sang chơi bác thường bảo tôi đọc bác nghe. Chỗ nào không hiểu tôi lại hỏi bác. Bác kể tôi nghe về những điển tích kèm theo. Sau anh Quyết, con bác thường mượn truyện của người quen về hai anh em cùng đọc. Làng tôi có cụ Binh Hiệp, ở Hà Nội về, mang về rất nhiều sách. Thỉnh thoảng cụ vẫn đến nhà bác tôi. Tôi đã nhờ bác nói với cụ cho tôi mượn đọc. Cụ chỉ cho mượn một cuốn và giao hẹn: “Ông cho cháu mượn một cuốn. đọc cẩn thận, không được cuộn sách lại, không được gấp trang giấy. Chưa đọc xong thì lấy cái tăm đặt vào, gấp sách lại. Lần sau đọc thì mở ra. Đúng hạn trả, lại mượn tiếp cuốn khác”. Tôi đã làm đúng và được cụ tỏ ý hài lòng, cho mượn tiếp. Tôi đọc hết những cuốn sách nhà cụ. Chủ yếu là tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và truyện, thơ Nôm. Năm học cấp II, tôi lấy tiền mừng tuổi mua sách và dùng sách đó đổi cho bạn lấy sách khác về đọc. Tới lớp 7 (cuối cấp II, ngang lớp 9 bây giờ), tôi trọ học gần nhà anh Nguyễn Văn An. Anh cũng rất mê đọc tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc và nhà con một nên mẹ chiều , cho tiền mua khá nhiều sách. Tôi hay sang nhà anh trò chuyện. Anh cho tôi mượn đọc bổ sung những cuốn tôi chưa từng đọc hoặc đọc lúc nhỏ giờ quên. Ông ngoại tôi đi Phú Thọ về mua cho tôi cuốn “Truyện cổ tích”, bố tôi (đi cùng ông) mua cho tôi “Thơ Tố Hữu” v…v…. Lên cấp III, tôi lại mượn sách của các bạn và bắt đầu có ý thức đọc và ghi lại những câu thơ, câu văn hay. Bạn Đỗ Chiến Thắng, học sinh giỏi Ngữ văn của lớp cho tôi mượn sổ tay để chép thêm một số câu tôi thích. Và cứ vậy, học xong cấp III, tôi đã đọc hàng trăm tiểu thuyết (cả Đông, cả Tây) và thuộc hàng nghìn câu thơ (nhiều nhất là thơ “Truyện Kiều”).
Lên đại học, Khoa Ngữ văn sơ tán tại Yên Mỹ, Hưng Yên, tôi trọ ở ngay gần thư viện của Khoa (Anh Hưng và cô Ánh phụ trách). Không lên lớp là tôi ra thư viện. Đọc và đọc. Có đêm thức học bài và đọc sách tới quá nửa đêm. Một lần mượn của bạn được suốn “Giên Erơ” (Sác-lốt Brôn-ti) , tôi thức đọc tới khi trăng đã chiếu qua cửa sổ phía tây vào bàn học. Ngắm trăng sáng, nhìn cuốn sách đầy thú vị, tôi đã viết bài thơ sau:
Sách yêu ơi!
Trăng rằm qua cửa sổ tây
Trăng cùng anh vẫn thức đây hỡi mình
Đêm nay dào dạt sóng tình
Đêm nay chỉ có một mình với ta
Sách ơi, tri thức bao la
Trong em có cả chuyện ta, chuyện người
Trong em có bốn phương trời
Trong em có biết bao lời nước mây
Chuyện cổ, kim; chuyện Đông Tây
Chuyện xưa, nay thật đủ đầy hỡi em
Từng trang càng ngắm, càng xem
Càng nghĩ, càng ngẫm, càng thèm, càng yêu...
Anh cao lên biết bao nhiêu
Nhờ em anh hiểu tình yêu, lẽ đời
Còn mây, còn nước còn trời
Còn yêu em, trọn một đời yêu em!
07 - 10 – 1968
Tuy không có tiền ăn sáng nhưng tôi, nhưng tôi vẫn dành dụm tiền để có cuốn sách mới xuất bản nào liên quan đến môn học, tôi lại mua cho mình. Có lần nghe giới thiệu về “Bất khuất” (Nguyễn Đức Thuận), tôi cảm phục những tấm gương của các chiến sĩ cộng sản kiên cường đã cố đạp xe từ Nguyên Xá (Yên Mỹ Hưng Yên), qua Phố Nối, tới Mỹ Hào để mua bằng được.
Về Hà Nội học, tôi nhờ Khoa giới thiệu và làm thẻ đọc tại Thư viện Quốc gia. Chủ nhật không lên giảng đường là đi thư viện. Về làm giáo viên ở Bắc Kiến Xương, anh Bùi Tấn (Hiệu trưởng) thầy tôi chăm đọc sách đã giao cho tôi phụ trách Thư viện. Thấy sách hay, tôi lại đề xuất Trường mua và tôi đọc liền. Về Thị Xã, tôi làm thẻ Thư viện Tổng hợp Thái Bình ngay và hàng tuần ra mượn sách của Thư viện về đọc. ...
Ra trường làm giáo viên, tôi dành một phần mười tháng lương hàng tháng để mua sách. Khoảng mươi năm gì đó mới giảm dần. Cho tới nay, tôi đã có hơn nghìn cuốn sách trong nhà. Cuốn mỏng thì 100 trang. Cuốn dày nhất thì 1800 trang (cuốn “Văn chương Thái Bình mười thế kỷ”). Yêu sách nên tôi rất trân trọng những câu danh ngôn về sách. Có câu được kẻ vẽ trang trọng trong “Sổ tay văn học” để thỉnh thoảng xem và tự nhắc nhở mình. Với sách mượn, thường khi đọc, tôi ghi lại những câu hay. Ghi mấy chục năm, bây giờ đã có hơn chục cuốn. Sách trên giá, tôi ghi theo loại để dễ tìm. Bây giờ trên giá sách của tôi là sách gồm các nguồn sau: Nguồn chính là tôi mua, ngoài ra là bạn bè tặng (mua tặng hoặc viết và xuất bản rồi tặng), sách do tôi viết và xuất bản (đã có 5 đầu sách), sách, báo, tạp chí có bài viết của tôi lưu trữ lại.
Tôi luôn mơ ước có một tủ sách gia đình để con cháu sau này có cái đọc để khỏi phải đi mượn vất vả như tôi. Song, tôi có cảm giác thế hệ trẻ bây giờ lười đọc. Có nhiều thứ cuốn hút quá. Và, rồi đây, cái công lao bao năm của tôi có được lưu truyền được đến nhiều thế hệ sau không?
Ôi! Thật là “Một câu hỏi lớn không lời đáp”!?
Cổ Nhuế, Ngày 24 – 10 - 2020

Người gửi / điện thoại