
CHIẾN DỊCH CUỐI CÙNG
Bút ký - Hồ Bá Thược

Kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng Sài Gòn thống nhất đất nước với nhiều cảm xúc. Một bản tráng ca, dấy lên lòng tự tôn, tự hào dân tộc khi đất nước được hưởng niềm vui, ngọt ngào hạnh phúc. Có được điều ấy, không quên những năm tháng dân tộc trải qua bao thăng trầm lịch sử. Nếu không có quá khứ, đất nước ta không có tương lai. Chúng ta muốn vươn mình, nhưng đó mới chỉ là ý chí, còn tương lai ngày hôm nay phải hơn ngày hôm qua.
Trong ngày vui hân hoan ấy, tôi nhớ đến các chiến dịch, để quốc Mỹ tiến hành huỷ diệt miền Bắc nước ta. Để không mai một, không bị lãng quên. Thậm chí không phản bội lại những gì cha ông đã đổ máu, làm rạng danh cho Tổ quốc. Với ký ức ấy, tôi trở lại những năm tháng, đã từng sống, chiến đấu trong thời kỳ khắc nghiệt nhất, thời kỳ chống Mỹ cứu nước.
1.Chiến dịch “Mũi tên xanh” (OPERATION PIERCE ARROW )
Cuối tháng 6 năm 1964, tôi được điều về nhận công tác ở Vụ Tổ chức lao động tiền lương của Bộ Giao thông Vận tải - 80 Trần Hưng Đạo. Do mới ra trường, không có nhà riêng ở Hà Nội, tôi được ăn ở nhà công vụ 59 - 61 phố Hàm Long. Hàng ngày cuốc bộ. Sáng đi, chiều về. Giống một viên chức xanh non 20 tuổi đời với bộ dạng nửa tỉnh, nửa quê.
Có lẽ do mình tốt nghiệp đỗ thủ khoa của trường Giao thông Thuỷ bộ, sinh viên duy nhất được ưu tiên về nhận công tác cơ quan Bộ Giao thông Vận tải - Nơi “béo bở” nhất của ngành – Có thể không ít người đều có chung một suy nghĩ như vậy. Nhưng họ nhầm. Tôi chẳng biết gì về nội dung công việc trong hai đống hồ sơ ngất ngưởng để trên bàn làm việc, cao hơn chỗ tôi ngồi. Họ không giải thích, không ai giúp đỡ. Chỉ nói ngắn gọn đó là công việc của tôi
Sự kiện Vịnh Bắc bộ xảy ra ngày 5/8/1964 khởi đầu thảm hoạ cho đất nước, nhưng với tôi, đó là một cơ hội. Chỉ sau mấy ngày địch đánh ra miền Bắc, tôi được điều động lên nhận công tác ở Ban chỉ đạo miền Tây, tham gia mở rộng, nâng cấp đường 111 Lai Châu, tiếp nhận hàng viện trợ từ Trung Quốc, chuẩn bị cho chiến tranh. Tôi lên Tây Bắc, rời xa 80 Trần Hưng Đạo, với sự háo hức của tuổi trẻ. Nhà thơ Bùi Minh Quốc đã viết “Tuổi hai mươi khi hướng đời đã mở/ Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường…” Câu thơ đốt cháy tâm trạng tôi suốt chặng đường với bao núi non điệp trùng, mây trời lộng gió…
Nào ngờ, trong những ngày tôi say mê núi rừng Tây Bắc, ở bên kia Đại dương, nhân danh Hợp Chủng quốc Hoa kỳ, Quốc hội Mỹ tuyên bố tiến hành cuộc chiến tranh chống phá miền Bắc Việt Nam, chỉ vì một lý do hết sức ngớ ngần - Nước chủ nhà “xua đuổi” tàu Mỹ ra khỏi lãnh hải của mình – Mỹ lấy cớ đó, đánh lại một quốc gia có chủ quyền.
Ngoài lý do đó, còn những âm mưu khác. Mỹ tiến hành chiến dịch 34 Alfa ( OPLA34a) từ năm 1961-1964, nhằm xé bỏ Hiệp định Giơnevo, hô hào “Bắc tiến”. Trước mắt tung nhiều toán biệt kích ra miền Bắc Việt nam. Đỉnh điểm cao nhất, đêm 30 /7/1964, tàu chiến Nguỵ Sài Gòn tập kích đảo Hòn Mê, có sự yểm trợ của tàu chiến Mỹ. Tiếp theo ngày 2/8/1964, tàu chiến Mỹ lại xâm lấn vùng lãnh hải, bị tàu Hải quân ta tiến công, tàu Ma đốc bị thương chạy ra hải phận quốc tế. Ngay sau đó, ngày 4/8/1964, Mĩ dựng chuyện, nghi cho tàu Hải quân của ta tiếp tục tấn công, uy hiếp tàu chiến Mỹ ngoài lãnh hải. Dựa vào sự bịa đặt trắng trợn đó, ngày 5/8/1964, Quốc hội Mỹ phê duyệt, Tổng thống Mỹ Johnson phát động chiến dịch “Mũi tên xanh” (OPERATION PIERCE ARROW ), đánh phá miền Bắc, nhằm tiêu diệt lực lượng và làm nhụt ý chí quân và dân ta.
Vào lúc 10 giờ 40 phút ngày 5/8/64 bắt đầu cuộc chiến tranh của Mỹ phá hoại miền Bắc Việt Nam lần thứ nhất. Địch dùng 64 lần chiếc máy bay Hải quân, chia làm 3 đợt đánh vào 4 vùng Hải quân của ta ở cửa Gianh (Quảng Bình) – Bến Thuỷ (Nghệ An) - Lạch Trường (Thanh hoá) - Bãi Cháy (Quảng Ninh), gây tổn thất lớn về người, vật chất, trang thiết bị.
Ngay từ trận đầu ra quân, chạm trán với lực lượng Hải quân Mỹ, lực lượng Phòng không, Hải quân Việt nam đánh dập đầu Hải quân Mỹ, bắn rơi 11 máy bay các loại. Tiêu diệt 2 giặc lái bắt sống phi công E. Alvaez, tên tù binh Mỹ đầu tiên trên miền Bắc.
Mỹ bịa đặt lấy cớ ta tấn công tàu Ma đốc để gây hấn, khởi động cuộc chiến, đưa chiến tranh vượt qua vĩ tuyến 17. Chiến dịch “ Mũi tên xanh” không thơ mộng như nhiều người nghĩ. Quân và dân ta không chấp nhận, đã bẻ gãy mũi tên ô nhục đó bằng một trận thắng giòn dã. Một chiến dịch “mượn oai hùm” để lừa dối nhân dân Mỹ, lừa dối lương tri loài người.
2.Chiến dịch “Sấm rền” ( OPERATION ROLLING THUNDER )
Sau mỗi lần Nguỵ Sài Gòn thất bại thảm hại, Mỹ lại “hà hơi, tiếp sức” bằng việc leo thang đánh phá Miền Bắc Việt nam. Không chỉ vậy, Mỹ gây sức ép khổng lồ, buộc miền Bắc phải ngừng hỗ trợ miền Nam, đồng thời xoá bỏ hạ tầng giao thông, gây tắc nghẽn, tiêu diệt lực lượng Phòng không, không quân của ta.
Chiến dịch “Sấm Rền”Mỹ đánh phá miền Bắc từ 2/3/1965 đến 1/11/1968. Âm mưu ban đầu nhằm xoá bỏ 94 mục tiêu, nhưng sau đó, Mỹ leo thang đánh phá hàng trăm mục tiêu khác với mức độ khốc liệt nhất, tàn bạo nhất, dài ngày nhất trong lịch sử các cuộc chiến tranh.
Trong những ngày đất nước chịu sự tàn phá nặng nề, tôi tạm biệt Tây Bắc, vào Trường Sơn tham gia mở đường. Thay vì vận chuyển thô sơ, không còn là “Đường mòn Hồ chí Minh”. Quyết tâm của Trung ương phải khẩn trương xây dựng các tuyến đường vận chuyển bằng cơ giới, bảo đảm thông xe bốn mùa. Ngay trên giải đất hẹp Quảng Bình, Đường 20 mạch máu giao thông quan trọng bậc nhất – Nối liền hậu phương với tiền tuyến, Mỹ đã không xoá bỏ được hạ tầng giao thông, không ngăn chặn được vận chuyển từ hậu phương ra tuyền tuyến, Mỹ chịu thua và Đường 20 đã thắng.
Trong sự giám sát chặt chẽ của OV10, C130 và hệ thống trinh sát điện tử, đầu năm 1966, gần một vạn công binh, thanh niên xung phong, công nhân, dân công hoả tuyến, dưới dàn mướp nguỵ trang, đã âm thầm, quyết liệt mở đường. Sau 77 ngày đêm bí mật mở thông 123 km đường đá hiểm trở. Nối liền Đông, Tây Trường Sơn từ Phong Nha đến Lùm Bùm. Đây là một đòn chí mạng, bất ngờ giáng vào sự kiêu căng của thế lực luôn cho là hùng mạnh nhất thế giới. Đường 20 giống mũi tên cắm vào bộ não chiến tranh, khiến Mỹ kinh hoàng, trút giận lên con đường với mức độ bom đạn khổng lồ, ác liệt nhất trong lịch sử ngành bảo đảm giao thông vận tải.
Như một sự trớ trêu, càng huỷ diệt, con đường càng có sức sống mãnh liệt, vẫn “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Bất lực, Mỹ đã phải dùng đến quỉ kế hèn mọn nhất, “chiến dịch thời tiết” (OPERATION POPEYE) do Bộ Quốc phòng và trung tâm tình báo Mỹ thực hiện 2600 phi vụ máy bay, rải 47.000 tấn hoá chất gây mưa, làm mềm đường đất yếu, gây lầy lội các con đường huyết mạch, cản trở giao thông rất lớn.
Tác động Chiến dịch “ Vũ khí thời tiết “ của Mỹ, Đường 20 phải chịu đựng những cơn mưa dai dẳng trái mùa, lầy lội ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch vận chuyển. Đặc biệt từ ngầm Cà Roòng đến ngầm Aky ( Km54- Km61) là đoạn đường đi trong vùng núi đất, nền đất yếu lầy lội nghiêm trọng. Đá lát mặt đường bị chìm trong bùn đất. Chẳng còn cách nào hơn, lát hàng vạn cây gỗ tròn trên mặt đường cho xe lăn bánh. Từ đó mặt đường “rong đanh” ra đời. Chiến dịch “ Vũ khí thời tiết” kéo dài 5 năm từ 1967 đến 1972, bị công luận phanh phui, thế giới phẫn nộ lên án.
Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc ngày 1/11/1968, chiến dịch “Sấm rền” kết thúc, không còn rền vang. Mỹ dành bom đạn để huỷ diệt các cửa khẩu giữa ta và bạn Lào. Đặc biệt cửa khẩu Đường 20 , bom đạn tàn phá đến mức con người không thể tưởng tượng được. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi thị sát hiện trường đã tuyên dương Đường 20 Quyết thắng là một “Kỳ công, kỳ tích, kỳ quan…”.
Điều thú vị nhất mà người Mỹ không hiểu được. Tại sao Mỹ tiến hành đánh phá hết chiến dịch này, đến chiến dịch khác vẫn liên tiếp bị thất bại? Càng nhiều bom đạn, thất bại càng nặng nề hơn? Phá huỷ một con đường, lại phát sinh thêm nhiều con đường khác. Huỷ diệt tài nguyên một đất nước, nhưng không huỷ diệt được tài nguyên lớn nhất của dân tộc ta. Đó là tài nguyên nhân dân.
3.Chiến dịch Bờ biển Ngà ( OPERATION IVORY COAST)
Cuộc hành quân Đặc nhiệm Kingpin Pow, nhằm giải thoát tù binh Mỹ tại nhà tù Sơn Tây đêm 20 rạng ngày 21 tháng 11 năm 1970 bằng cuộc tập kích của hơn 100 máy bay các loại, 3 tàu sân bay thường trực ngoài Biển Đông, nhằm khống chế bầu trời miền Bắc, chi phối chiến dịch giải cứu tù binh.
Vào thời điểm năm 1970, địch ném bom vùng cán xoong Quảng Bình, trong Hoàng thành Thăng Long mọi công việc và sinh hoạt của bộ đội trở lại bình thường. Bầu trời cũng yên ả được chút ít. Các sĩ quan có nhà ở Hà Nội được về sinh hoạt gia đình với vợ con, sau khi rời công sở.
Thời gian này trung uý trợ lí phòng Tác chiến Nguyễn Văn X. được phép về nghỉ tại gia đình, nhà cuối phố Hàng Đậu, gần bến xe Bến Nứa. Khoảng 7 giờ sáng thứ bảy ngày 21 tháng 11, năm 1970 viên sĩ quan đi làm, vừa đến cổng Cửa Bắc đã chạy vội vào Phòng Tác chiến, nói không ra hơi:
-Thủ trưởng và các anh đã biết gì chưa? Đêm qua Mỹ nhảy xuống thị xã Sơn Tây, cướp tù binh Mỹ, đánh nhau to lắm…
Trưởng Phòng không giữ được bình tĩnh, hỏi gắt:
- Tại sao dân biết, bộ đội trong thành lại không hay? Tin thật hay tin giả? Trực ban của ta sao không nắm được tình hình?
Tất nhiên rồi. Một tin “động trời” thế này, không ai không khỏi choáng váng. Đó là điều bí mật, không phải nhiều người được biết. Sau nhiều năm vụ tập kích Sơ Tây giải thoát tù binh Mỹ mới được giải mã.
Để giải thoát 55 tù binh Mỹ ở trại giam Sơn Tây ( số lượng theo tình báo Mỹ công bố ), do Nhóm tình báo đặc nhiệm Mỹ (chuyên theo dõi tù binh bắc Việt Nam) tiến hành, đã huy động 103 lính đặc nhiệm, 28 phi công, 20 máy bay ( có 5 trực thăng HH53) do Đại tá Athur Simons trực tiếp chỉ huy.
Mặc dù chiến dịch chỉ xẩy ra chớp nhoáng trong vài giờ, nhưng Mỹ phải chuẩn bị hàng năm trời. Sau khi thu thập tài liệu, quan sát địa hình bằng tình báo, chụp ảnh vệ tinh nhiều lần. Mỹ xây dựng hiện trường giả giống như thật và tiến hành 107 cuộc diễn tập. Theo kế hoạch, trong số 5 máy bay trực thăng, sẽ có 1 máy bay đáp xuống sân trại tù “hi sinh” để dọn đường cho các máy bay khác hạ cánh an toàn. Kế hoạch chi tiết đến mức, máy bay “hi sinh” cũng vừa hết dầu, không để xảy ra cháy nổ trong trại giam tù binh.Vào lúc 2 giờ sáng ngày 21/11/1970, kế hoạch diễn ra đúng kịch bản. Nhưng thật bất ngờ, trại tù vắng ngắt, không bóng dáng một tù binh Mỹ. Để trả thù, lính đặc nhiệm bắn chết 6 người trông coi trại tù, 5 cán bộ trại an dưỡng gần đó. Đột nhập gia đình bắn chết vợ và 3 đứa con của Đại tá Lê Việt Tiến Phó Trưởng ty công an Hà Tây. Kế hoạch cụ thể đến mức, trước khi máy bay cất cánh rút lui, điểm danh từng tên một, tránh bỏ sót, không để lại hậu hoạ.
Đây là cuộc tập kích rất táo bạo, liều lĩnh qui mô lớn của Mỹ, tham vọng giải cứu đám tù binh hạng sang, thuộc “con ông cháu cha”, là hàng hiếm của Mỹ. Bị thất bại nặng nề, Mỹ ngậm ngùi cam chịu. Nhưng đau nhất, trong chính giới Mỹ hoài nghi về khả năng tình báo, cách tổ chức tiến hành chiến dịch. Vết thương tâm lý xen lẫn hoài nghi trong nội bộ nước Mỹ mỗi ngày một tăng. Vì thế sau thất bại nhục nhã, Mỹ bắt đầu tổ chức lại cơ cấu cơ quan tình báo của mình.
4.Chiến dịch “OPERATION LINEBACKER 1”
Chiến dịch OPERATION LINEBACKER 1. Từ 9 tháng 5 năm 1972 đến 23 tháng 10 năm 1972 , Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ tư nhằm cứu vãn “Việt nam hoá chiến tranh” đang dần sụp đổ ở miền Nam. và giành quyền chủ động đàm phán Hội nghị Paris về Việt Nam. Với dã tâm nham hiểm, Mỹ muốn huỷ diệt đưa miền Bắc nước ta về “thời kỳ đồ đá”.
Trong chiến dịch, Mỹ tiến hành bằng hai “Lưỡi kiếm” trên không và trên biển. Trên không, Mỹ tăng cường đánh phá với mức độ tàn bạo hơn chiến dịch “Sấm Rền”, dùng đến con bài chiến lược cuối cùng B52 rải thảm bom ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Thanh hoá, Nghệ An. Trên biển, phong toả các cảng, luồng lạch quan trọng nhất. Đặc biệt phong toả Cảng Hải Phòng, không cho tàu Liên Xô, Trung Quốc cập bến. Cắt đứt hoàn toàn nguồn viện trợ quốc tế từ bên ngoài, bóp nghẹt hai mặt hàng vũ khí và xăng dầu chiến lược của ta.
Ngoài bom thuỷ lôi thả dày đặc, Mỹ dùng loại bom mới - bom Từ trường. Khống chế tàu thuyền, xe cộ , gây tắc nghẽn giao thông cục bộ. Loại bom có cánh thả xuống , nằm im trên mặt đất hoặc chìm dưới nước chờ nổ khi có vật thể đi qua gây sóng từ trường. Loại bom tinh vi này, gây rất nhiều tổn thất, khó khăn cho ta. Bộ tư lệnh Quân khu 4 cấp tốc mở lớp tập huấn phá bom Từ trường bằng phương pháp thủ công. Chỉ dùng dây cước, kéo sắt thép đi qua vị trí bom là có thể kích nổ bom, nhờ sóng từ trường. Ở dưới nước, dùng ca nô lướt trên sông, kích nổ bom. Phương pháp này cực kỳ nguy hiểm, nhiều thuỷ thủ lẫn ca nô đã anh dũng hy sinh để thông phà, thông luồng lạch.
Tôi được Binh trạm cử đi dự khoá đào tạo phá bom từ trường do QK4 tổ chức 3 ngày ở Nam Yên. Hàng ngày đi phá bom, trong tay tôi chỉ một nắm dây cước, còn mảnh tôn,thùng phi hoặc sắt thép xe cháy ở trọng điểm, chỗ nào cũng có. Đó là tất cả những “đạo cụ” cần thiết để tôi hành nghề phá bom. Giá như các nhà khoa học Hoa Kỳ biết tôi phá nổ được bom Từ trường do họ làm ra bằng một trò chơi trẻ con, giống với trò “kéo cưa, lừa xẻ”. Chắc chắn bọn họ phát điên lên mất, không chừng kéo cả lũ vào Trại tâm thần Châu Quì?.
Các con đường huyết mạch, địch không đánh tràn lan. Dùng thủ đoạn mới đánh “chặn đầu, khoá đuôi”. Đầu đường 20, tại Km12 vách đá Chà Ang cao hàng chục mét, ngày đêm máy bay liên tục bắn tên lửa vào vách đá. Biến đá thành vôi bột, đổ xuống đường thành bãi lầy khổng lồ. Đường tắc, hết xăng, xe không hoạt động, buộc lòng cho bộ đội vần xăng qua trọng điểm. Kết quả thật đau lòng, 29 bộ đội hi sinh nhưng chỉ đưa được 20 phi xăng dầu qua trọng điểm.
Cuối đường 20, địch đánh chốt chặn, tạo thành liên hoàn trọng điểm ATP. Mức độ tàn phá cực kỳ khủng khiếp, đoạn đường hoàn toàn biến mất. Đất đá, hầm hào, xe cộ…biến thành bãi đất hoang khổng lổ. Vì vậỵ, để thắng địch, ta làm thêm 260 km đường vòng tránh. Thậm chí đường kín QZ, xe vận chuyển chạy được ban ngày. Cuộc chiến sinh tử giành giật từng giờ, từng phút, nhưng cuối cùng Đường 20 chiến thắng, Mỹ bất lực, chịu thua.
Kết thúc chiến dịch Linebacker1, Mỹ thất bại thảm hại không cứu vãn được “Việt nam hoá chiến tranh”.Đẩy Mỹ vào thế bị động ở Hội nghị Paris. Ngoài số máy bay chiến thuật, nhiều phi công bị bắt sống. Ta bắn hạ 34 máy bay B52 , thần tượng pháo đài bay sụp đổ.
5.Chiến dịch OPERATION LINEBACKER II
Xâm lược Việt nam, Mỹ học được câu thành ngữ “Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay”. Do thất bại và bế tắc tại Hội nghị quốc tế Paris về Việt Nam, Cố vấn Lê Đức Thọ vừa về sân bay Gia Lâm, Mỹ bất ngờ tiến hành chiến dịch huỷ diệt miền Bắc Việt nam lần thứ năm từ ngày 17/12/1972 đến ngày 29/12/1972 mang tên Chiến dịch OPERATION LINEBACKER II đánh vào Hải phòng, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang. Liều lĩnh và nghiêm trọng hơn, Mỹ dùng đến B52 rải thảm bom và đánh phá dữ dội Thủ đô Hà Nội, trung tâm đầu não chính trị, kinh tế, văn hoá với mức độ điên cuồng nhất, dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh Việt nam và địch đánh với cường độ cao nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới.
Thời gian này, trong Hoàng thành Thăng Long, bộ đội vẫn sinh hoạt bình thường. Vào lúc 18 giờ 30 ngày 17/12/21972, hội trường C38 Tổng Cục Hậu Cần đang chiếu phim phục vụ cán bộ chiến sĩ. Trong buồng chiếu, đột ngột đèn bật sáng, màn hình dừng lại. Có ai đó nói trong loa :Thông báo khẩn cấp: “ Tất cả sĩ quan, chiến sĩ về ngay cơ quan nhận nhiệm vụ”
Gần đây, cấp trên thường xuyên cảnh báo sằn sàng chiến đấu, hạn chế đi phép, các sĩ quan có nhà Hà Nội, hạn chế về gia đình, luôn có mặt trong doanh trại… Nhưng hôm nay, thông báo bất ngờ quá, không ít người ngỡ ngàng. Lệnh sơ tán khẩn cấp! Còi ủ báo động thành phố rền vang. Thông tin từ Cục Tác chiến cho biết nhiều tốp máy bay B52 từ Thái Lan và Guam đang hướng vào Hà Nội. Bộ đội trong Hoàng thành sơ tán khẩn cấp. Dọc đường đi, thấy dân Hà nội còn lại rất ít người, đang lục tục trên nhà xuống hầm hào. Phần lớn dân đã được đi sơ tán trước đó
20 giờ15 ngày 17/12 B52 thả loạt bom đầu tiên Phía Bắc Sân bay Nội Bài. Phía Đông sân bay Gia Lâm, kho xăng Đức Giang, Phía Nam Đài phát thanh Mễ Trì, phía Tây trạm biến thế Ba La và các trận địa tên lửa, kho tàng… Vừa đến được Ngã tư phố Vác, bầu trời Hà Nội bắt đầu bùng lên đỏ rực. Một cầu vồng của tên lửa, pháo cao xạ tầm cao, tầm thấp, súng bộ binh… giống như vòi rồng vươn lên đón đầu, khoá đuôi B52 địch. Những con rồng lửa từ các trận địa Thường Tín bắn lên. Vùng Khoái Châu bắn sang, Bắc Ninh bắn xuống. Đông Anh bắn thẳng. Sơn Tây bắn chéo...đồng loạt lên tiếng. Cả Hà Nội hò reo như sấm dậy mỗi khi máy bay trúng tên lửa, như bó đuốc khổng lồ từ trên trời lao xuống. Nếu không phải là chiến tranh, ngày 17/12/1972 có một đêm đẹp nhất mà tôi được tận mắt chiêm ngưỡng cả bầu trời Hà Nội tuyệt đẹp, huyền ảo, lung linh, khí phách anh hùng…
Chuồng lợn hậu cần bị bỏ đói do bếp nghỉ nấu ăn do bộ đội đi sơ tán hết. Chị nuôi điện khẩn cấp, đề nghị Thủ trưởng cho người về cơ quan thịt bớt lợn, nhân ngày Chúa giáng sinh. Ai cũng nghĩ bọn phi công Mỹ được nghỉ ăn tết Noen, nên mọi người kéo nhau về cơ quan ăn bữa liên hoan. Mâm bát đã sẵn sàng. Không ngờ vào tầm 16 giờ ngày 24/12 còi ủ thành phố báo động còn chưa dứt, máy bay và bom đã nổ trên đầu. Một quả bom rơi khu làm việc Bộ Tham mưu. Một quả gần Sở chỉ huy Cục Vận tải. Đất đá, nhà cửa rung rất mạnh, nhưng mảnh rơi vãi không nhiều, chứng tỏ đây là loại bom phá công trình ngầm. Mấy ngôi nhà xung quanh sụp đổ, không thiệt hại về người. Cơ quan nhận định, hai quả bom này, lẽ ra địch đánh vào nhà máy điện Yên Phụ gần đó. Nhưng vì pháo phòng không của ta ở thành cửa Bắc bắn rát quá, phi công Mỹ cuống lên , thành ra bom “lạc” vào Tổng hành dinh, Bộ Quốc phòng.
Chiến dịch Linebacke II kết thúc với thắng lợi giòn giã của Quân và dân ta. “Mỹ chỉ thua trên bầu trời Hà Nội”. Như lời tiên đoán của Bác Hồ. Trước khi vào trận, Bộ tư lệnh Quân chủng Phòng Không Không quân đã hứa với Bộ Chính trị. KỊch bản N1 - Hạ được 1 đến 2% B52, Mỹ còn chịu đựng được. KỊch bản N2 - Hạ được 6-7% B52, nhà Trắng bắt đầu rung chuyển. KỊch bản N3- hạ được trên 10% B52 Mỹ sẽ thua. Quân chủng hứa với Bộ Chính trị, quyết tâm hạ được 6-7 % Tổng số máy bay Mỹ hiện có, làm cho Nhà Trắng rung chuyển đến tận gốc. Nhưng Quân chủng PKKQ đã làm được những điều không tưởng, hạ được 34/197 B52, đạt 17,6% tổng số máy bay B52 nước Mỹ hiện có.
Tổng thống Mỹ Nixons tuyên bố kết thúc chiến dịch, chấp nhận thua. Ngày 27/1/1973 Hiệp định Paris về Việt nam được ký kết. Ngày 29/3/1973 tên Mỹ cuối cùng cút khỏi Việt nam. Đây là thắng lợi chiến lược to lớn của Việt nam. Cục diện chiến tranh của ta bước sang giai đoạn mới : giai đoạn Tổng tiến công, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
6.Chiến dịch “ CUỘC ĐÀO THOÁT VĨ ĐẠI” Từ 2/4/1975 đến 26/4/1975
Quan chức Cục tình báo Trung ương Mỹ Frank Snepp tình cờ nhận được một tin tình báo “động trời” : Bắc Viện nam đang xây dựng Kế hoạch chiến dịch tổng tấn công vào ngày sinh nhật Hồ Chủ tịch vào 19/5. Có thể ngày 1/5 chiến dịch bắt đầu .
Lập tức Nhà Trắng hành động, xây dựng Kế hoạch “di tản tuyệt mật” do Thuỷ quân Lục chiến Hoa kỳ thực hiện với chiến dịch “Đào thoát vĩ đại” từ 2/4 đến 26/4/1975. Bước 1 : Đại sứ quán Hoa Kỳ chỉ để lại 1250 quan chức, nhân viên. Còn lại đều phải di dời khỏi Sài Gòn trong 1 ngày. Bước 2 : Di dời 200.000 Quan chức chính quyền Nguỵ cùng gia đình, vợ con, người thân, bồ nhí…
Tuy nhiên bước thứ hai này phải đến ngày 21/4 mới được thực hiện trong sự hỗ loạn chưa từng thấy, dẫu cho Sân Bay Tân Sơn nhất chưa bị quân đội ta pháo kích. Còn trước đó, chiến dịch “ Không vận trẻ em” (OPERATION BABYLFT) bằng 60 chuyến trực thăng đưa 2700 trẻ mồ côi, trẻ em cùng huyết thống Mỹ.
Ngày 5/4/1972 “Chiến dịch Babylet” xảy ra 1 vụ tai nạn khủng khiếp. Một máy bay vận tải khổng lồ C5-C có trọng tải 378 tấn. Trên phi cơ có 314 người ( bao gồm kíp lái, nhân viên và 229 trẻ em. Xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất qua Vũng Tàu được 20 km bỗng phát ra tiếng nổ, cánh cửa đuôi máy may bật mở. Máy bay vật lộn, loạng choạng quay về được đất liền, xin hạ cánh xuống sân bay Tân Sân Nhất. Hai lần không tiếp được xuống đất, đành lao xuống cánh đồng lúa, húc vào thân đê vùng ven Sài Gòn. Máy bay vỡ làm 4 mảnh, cứu sống 176 người, chết 138 người. Chiến dịch Babylft được coi là chiến dịch “Bắt cóc thế kỷ”. Chính quyền Mỹ dùng vũ lực ép buộc trẻ em phải rời xa quê hương, đất nước đến Mỹ, Úc, Canada nơi xứ người, diễn ra công khai, hết sức trắng trợn, bị quốc tế lên án, dư luận trong nước phản đối. Quốc hội Mỹ đòi xem xét về tính pháp lý.
Chiến dịch “ Đào thoát vĩ đại” là hồi kết sụp đổ cuộc chiến tranh của Mỹ xâm lược Việt Nam. Hai lần thất bại trên bầu trời đất Việt. Một ở Hà nội, một ở Sài Gòn. Oan cho câu nói đầy ngạo mạn của Graham Martin, Đại Sứ quán Mỹ tại Sài Gòn “Nước Mỹ không thể bị đánh bại”.
7.Chiến dịch “Gió lốc” ( OPERATION FREQUEN WIND)
17 giờ, ngày 26/4/1975, tại Cầm Xe (Bắc Dầu Tiếng) Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh phát lệnh mở màn chiến dịch tiến công trong hành tiến với 5 cánh quân đánh vào Sài Gòn. Vào 11 giờ 30 ngày 30/4/1975, Quân ta tiến vào dinh Độc lập, giải phóng Sài Gòn – Gia Định làm nên mốc son chói lọi, kết thúc sự nghiệp Chống Mỹ, cứu nước với thắng lợi vĩ đại. Thực hiện trọn vẹn tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ :” Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào”Trong tình thế “ Nghìn cân treo sợi tóc”, bị 5 cánh quân của ta bao vây, áp sát Sài Gòn. Sân bay Tân Sơn nhất bị quân ta tấn công ( bắn cháy máy bay vận tải C130). Trong tình hình nguy cấp, Nhà Trắng ra lệnh cho Sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn thực hiện ngay Chiến dịch “Gió lốc” (OPERATION FREQUEN WIND) bằng trực thăng vận trên nóc nhà Đại Sứ quán Mỹ và một số địa điểm khác trong thành phố, vì sân bay Tân Sơn nhất đã bị quân ta đánh chiếm.
10 giờ 48 ngày 29/4/1975 đến 7 giờ 30 ngày 30/4/1975, chiến dịch di tản người Mỹ, quan chức Chính phủ, tướng lĩnh và gia đình vợ con của họ bắt đầu. Đây là cuộc tháo chạy có qui mô lớn nhất trong lịch sử chiến tranh loài người với lượng máy bay trực thăng khổng lồ (140 trực thăng lớn nhỏ - 682 chuyến bay) với cường độ cao, thời gian ngắn nhất (vẻn vẹn 19 giờ đồng hồ), di tản đươc 6000 quan chức chính quyền, tướng lĩnh, sĩ quan, gia đình, vợ con và 1000 người Mỹ cuối cùng trong toà Đại sứ quán Hoa Kỳ.
Cuộc tháo chạy diễn ra rất hỗn loạn, chưa từng xảy ra ở cuộc chiến nào. Ai cũng muốn giữ mạng sống của mình, nên bất chấp cha mẹ, anh em, họ hàng, đồng liêu, đồng ngũ …chen lấn, dẫm đạp lên nhau để thoát thân, thậm chí nhiều người bám càng máy bay. Trực thăng phải rung lắc cho người rơi xuống đất. Cảnh tượng rất đau lòng. Cây cổ thụ trong khuôn viên Đại Sứ quán Hoa Kỳ, biểu tượng cho tình hữu nghị Việt - Mỹ đời đời bất diệt cũng được chặt bỏ để lấy chỗ cho trực thăng đáp xuống.
Sự hỗn loạn trên đất liền đã vậy, nhưng sự hỗn loạn trên tàu sân bay nơi máy bay trực thăng hạ cánh còn đau lòng hơn. Một số máy bay trực thăng vẫn lởn vởn bay trên trời, chờ đến lượt đáp xuống tàu, hết xăng máy bay và người rơi xuống biển. Thậm chí, phải đẩy các trực thăng trên tàu xuống biển, lấy chỗ cho trực thăng khác đáp xuống. Một số tàu thương mại tham gia chở người di tản, chơi vơi ngoài khơi, không đủ dầu đi xa, đành phải quay về Sài Gòn… Một số người đã lên được Côn Đảo, nhưng phải chịu cảnh chen lấn, chờ đợi dài ngày đến nước thứ 2, thứ 3… đói khát, ốm đau, bệnh tật, chết đói... thảm cảnh rất đau lòng
Điều may mắn với hàng vạn kẻ di tản bằng máy bay dày đặc trên bầu trời Sài Gòn, không hề một viên đạn nào của Quân Giải phóng bắn lên. Có lẽ trong tâm thức của các chiến sĩ, không muốn sống chung với kẻ bán nước, cầu mong cho họ ra đi bình yên nơi đất khách, quê người..
Trong khuôn viên Đại sứ quán Hoa Kỳ, còn lại một người đang lọ mọ đốt cháy hồ sơ tuyệt mật. Hắn tuyệt vọng khi đống hồ sơ chưa kịp đốt hết, bay trắng xóa trong khuôn viên chỉ vì cánh quạt máy bay trực thăng mạnh quá. Con người mẫn cán đó chính là trùm tình báo CIA Frank Snepp. Cả cuộc đời còn lại, có lẽ hắn ân hận nhất khi “bỏ quên” 70 điệp viên làm việc lâu năm cho CIA mà không kịp đưa lên máy bay tẩu thoát. Đau đớn và tội lỗi hơn, bỏ lại cô vợ hờ Meri xinh đẹp và 2 đứa con nhỏ của hắn để một mình tẩu thoát. Đó là người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt nam, chấm dứt 20 năm dính líu, xâm lược Việt Nam.
Mặc cho người Việt vui mừng, mặc cho thế giới chào đón kỷ niệm 50 ngày giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước. Ở Hoa Kỳ, Tổng thống Mỹ “cấm” công dân của mình đến Việt Nam vào những ngày trọng đại này. Xin mọi người hãy đừng trách ông ta. Trong quá khứ, dân tộc Việt đã hạ bệ được bốn đời Tổng thống Mỹ. Các đời tổng thống Mỹ tiếp theo như ông ấy, không một sớm, một chiều rửa sạch được vết nhơ trong lịch sử Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.
HBT

Người gửi / điện thoại