bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
PHẢN HỒI MỚI

AI give me this

HAS MOTHER’S MEMORY FADED INTO OBLIVION? A Poem of Love, Time, and Farewell Long ago, I kissed my mother goodbye, She stood in tears beneath the parting sky. I walked away with laughter in my eyes, ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

CŨNG CHẢ CÓ GÌ GHÊ GỚM!THƠ NOBEL CŨNG CHỈ THẾ THÔI!SAO MÀ CÁC NHÀ THƠ VIỆT NAM CỨ PHẢI ƯỚC AO! HE HE HE...

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BẠN ĐÃ GHÉ TRANG VÀ BÌNH LUẬN!

 

0915708232

Nổi lòng của một thời rong ruổi mà đi lên

 

VŨ NHO 085 589 0003

ẢNH ĐẸP QUÁ! CÁM ƠN NHIẾP ẢNH GIA HOÀNG VĂN NĂM!

 

VŨ NHO 085 589 0003

CHÚNG TÔI ĐÃ GIỚI THIỀU MỘT SỐ CHƯƠNG TRONG TÁC PHẨM DON JOAN DO NHÀ VĂN, DỊCH GIẢ THÁI BÁ TÂN DỊCH. LẦN NÀY CHÚNG TÔI GIỚI THIỆU TIẾP BẢN DỊCH TIỂU THUYẾT BẰNG THƠ "EVGHENHI ONHEGHIN" CỦA PUSKIN DO D...

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 60
Trong ngày: 1040
Trong tuần: 3606
Lượt truy cập: 2005616

HỒI ỨC CON ĐƯỜNG


Đại tá Hoàng Trá
Nguyên Binh trạm trưởng Binh trạm 14
KHÔNG THỂ NÀO QUÊN
Hồi ức
Khi đế quốc Mỹ mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại ra
miền Bắc nhằm ngăn chặn sự chi viện sức người, sức của cho
chiến trường miền Nam. Nghe theo lời kêu gọi của Chủ tịch
Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập tự do”; tháng 10
năm 1965 bộ đội, thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước
chúng tôi được lệnh lên đường. Bắt đầu mở đường Đông
Trường Sơn sang Tây Trường Sơn và chuẩn bị thành lập Binh
trạm 14. Chúng tôi biết nhau từ ngày ấy. Trải qua hơn 30 năm
thăng trầm lịch sử, hôm nay Chi hội I Binh trạm bộ 14 họp
mặt. Tôi nhớ lại một thời không thể nào quên:
Đường 20 ta mở, cửa khẩu thứ hai, đoạn đầu đường
Hồ Chí Minh
Điểm đầu làng Phong Nha đi qua cửa rừng 4 km bắt đầu
lên dốc thoải. Đến km 6 gặp dốc đá Đồng Tiền. Đỉnh dốc là
bãi thoải, phía Tây là khu rừng già, có Phân trạm tổng kho
A và căn cứ Tiểu đoàn xe 781. Tụt dốc Chà Ang chạy dài 3
km, bên trái là suối Chà Ang, bên phải là dãy núi đá vôi dựng
đứng như bức trường thành. Đi qua hang động lớn kho NH,
leo dốc đến km 16 vượt Ba Thang. Hết km 31 tụt dốc lò xo
cua tay áo xuống thung lũng Khe Diêm. Từ đây lên đỉnh U
Bò (km 39) là khu rừng già bạt ngàn, có kho hàng của Phân
trạm B; Ban chỉ huy mở đường 20. Đường men tiếp theo
vùng đồi bát úp đến Khe Tum (km 42), Cà Roòng (km 52),


A Ky (km 61) thượng nguồn sông Son. Đây là nơi dừng chân
tập kết, chuẩn bị vượt cửa khẩu của Tiểu đoàn xe 52 và 781.
Km 68 tại Cổ Ràng là biên giới Việt - Lào.
Từ đây xuống dốc đến thung lũng Ban Cô - một khu
rừng cổ thụ bằng phẳng. Tại đây có Phân trạm C là căn cứ
kho, xe thứ ba và Chỉ huy sở tiền phương của Binh trạm 14,
E224 cao xạ. Đến km 75 đường đi men dãy đồi núi bát úp
ngoằn ngoèo qua cua Chữ A (km 78), vượt sông Ta Lê (km
82) lên đèo Phu La Nhích - con đèo cao và dài nhất trên
đường 20 mà sau này cùng với cua Chữ A và ngầm Ta Lê
đã trở thành quyết chiến điểm, thành “cửa sinh cửa tử”, “trận
địa thép” mang tên cụm trọng điểm A - T - P.
Từ km 100 đến km 120 là bình nguyên Chà Là - Ka Tốc
- Lùm Bùm, một thung lũng xanh và hẹp nằm kẹp giữa hai
dãy núi đá với nhiều hang động và mênh mông rừng già.
Đường 20 trên núi rừng Trường Sơn ngàn năm yên ngủ,
không dấu chân người bỗng chốc xôn xao tiếng cười tiếng
nói của 5 đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước từ
Nam Hà, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Quảng Bình cùng
3 trung đoàn công binh 4, 5 và 10. Các lực lượng thi công
này do cán bộ Bộ Giao thông chỉ huy, mở con đường dài 125
km chỉ trong 3 tháng - một kỷ lục mở đường vận tải thời
chiến trên Trường Sơn.
Binh trạm 14 được thành lập ngày 6/4/1966, là chiến
tuyến vận tải, hành quân, cửa khẩu thứ 2 đoạn đầu đường
Hồ Chí Minh. Cung đường vận chuyển: Từ ga Đò Vàng
nhận hàng đường goòng xuôi sông Nậy, ngược sông Son cập
bến kho Khương Hà, Cù Lạc, Phong Nha.
Từ kho Đá Đẽo và Tổng kho A nhận hàng đường bộ,
tập kết hàng viện trợ của hậu phương miền Bắc và Quốc tế

chi viện miền Nam qua đường 20, vượt khẩu sang Lào vào
giao hàng cho Đoàn 559.
Về tuyến giao liên hành quân: Tiểu đoàn 7 có 7 trạm.
Nhận quân ở trạm 4 làng Cự Nẫm Anh hùng, đi về phía tây
Trường Sơn song song với đường 20; nhập tuyến giao liên
của Đoàn 559 đưa quân vào Nam và đón thương binh ra Bắc.
Bẩy năm vận chuyển, chiến đấu, giao liên, hành quân
trên đường 20 là 7 năm địch đánh phá ác liệt, trong khi địa
hình hiểm yếu, nắng ít mưa nhiều, đông nắng tây mưa và
ngược lại. “Trường Sơn đông nắng tây mưa/ Ai chưa đến
đó như chưa rõ mình”. Thật vậy, những người yếu tinh thần
và sức khỏe đã không chịu nổi, không ít trường hợp đã “B
quay”. Chỉ những thanh niên tự nguyện xác định “xanh cỏ
hoặc đỏ ngực” mới trụ lại đây. Trên chiến tuyến ấy, 2.500
ngày đêm có lẻ, mồ hôi, máu và nước mắt của bao con
người đã chảy xuống mặt đường, xuống dòng sông để giành
giât với địch, với trời, đưa hàng, đưa quân vào chi viện cho
miền Nam.
Nhớ lại 3 năm đầu gian khổ. Thương lái xe rì rì, đèn rùa
trong đêm leo dốc trơn vượt ngầm Cà Roòng, A Ky..., thoát
trận bom nơi này, còn đoạn sau chưa biết; Thương cô thanh
niên xung phong ngày đêm đội mưa dầm đi lấp hố bom trong
giá rét của gió mùa Đông Bắc; Thương cô gái giao liên dẫn
quân leo dốc “Ba Thang”, người đi trước đá gót chân vào
trán người đi sau. Ngày nối ngày leo dốc Trường Sơn chân
chồn, gối mỏi, muối mặn mồ hôi; thương lính giao liên hai
người một cáng thương binh, chống gậy vượt đèo cao ì ạch
đưa đồng đội về tuyến sau. Những đoạn đi được xe cơ giới
thì đường xóc, giữ làm sao cho thương binh không đau, qua
trọng điểm liệu có an toàn? Binh trạm trưởng cùng với Tham


mưu phó Lê Thám phụ trách giao liên đau đầu tính kế: Hạ
bớt dốc cho cáng dễ đi qua. Lập thêm trạm giao liên cơ giới
cho xe chở thương binh đi từng đoạn, tránh qua trọng
điểm...
Nhớ lúc đường chưa thông xe, gạo hết muối không còn.
Cả đơn vị húp cháo nhạt từ cân gạo mốc. Quanh năm măng
nứa rau rừng. Thương chị em sốt rét hoành hành vàng da,
rụng tóc, tắt kinh. Nhớ bức điện của đại đội trưởng xe: Cả
đại đội sốt rét, chỉ còn tôi nấu cháo cho anh em. Chúc Binh
trạm vận chuyển mùa mưa thắng lợi! Khôi hài mà thật. Binh
trạm trưởng mỉm cười. Chủ nhiệm Quân y Lưu Xuân Huệ
còn nhớ Chiến dịch khôi phục sức khỏe trước chiến dịch vận
tải mùa khô năm ấy.
Núi cao chí khí càng cao. Sỹ khí đã hăng. Đọ sức hiệp
đầu (mùa khô 1966 - 1967) ta thắng địch ở vùng cửa ngõ
Xuân Sơn, cua Chữ A. Trên con đường mới mở chưa đạt
tiêu chuẩn kỹ thuật mà xe vận chuyển đạt kế hoạch trên 10
lần mùa mưa năm 1966. Anh hùng LLVT Vũ Tiến Đề và
chiến sỹ Quyết thắng Nguyễn Thị Vân Liệu nêu tấm gương
đầu (sau này Nguyễn Thị Vân Liệu được truy tặng danh hiệu
anh hùng LLVTND ngày 10/4/2001). Mùa khô 1967-1968,
địch đánh bom trên toàn tuyến. B52 rải thảm ngầm Ta Lê
trên đường 20A, ta mở đường tránh và ngầm 20B. Địch chặn
dốc cua km 68, ta mở đường 20E dài 15 km. Quyết tâm của
công binh và thanh niên xung phong là: “Địch đánh ngày coi
như không tắc, đánh đêm chỉ tắc giờ”. Các Tiểu đoàn xe 781
và 52 đầy hàng, cõng hai Sư đoàn 304 và 325 vào mở mặt
trận Khe Sanh - Đường 9 Nam Lào. Ngày 20/1/1968 nổ súng
ở Khe Sanh - Đường 9. Đêm Giao thừa Tết Mậu thân
(31/1/1968) cuộc tổng tiến công và nội dậy mở màn. Thuận

đà, Binh trạm 14 mở đợt tổng công kích nước rút, dứt điểm
kế hoạch vận chuyển mùa khô 1967-1968, khối lượng gấp
hai lần rưỡi so với năm trước. Ông Ngô Kim Tuyển (Ban
Chính trị) còn nhớ, ngày 19/5/1968, Đội tuyên truyền Văn
nghệ trên xe rước lẵng hoa Bác Hồ thưởng Binh trạm 14 đi
dọc tuyến đường 20. Từ đây, tuyến đường 20 trở thành cửa
khẩu chủ yếu và mang tên Đường 20 Quyết thắng!
Nhớ lại Chà Ang và “Tam giác lửa”
Sau đòn tập kích chiến lược Tết Mậu thân 1968, Tổng
thống Jonhson biết không thể thắng Việt Nam bằng sức
mạnh quân sự của Hoa Kỳ, phải chuyển sang vừa đánh vừa
đàm. Mùa mưa năm 1968 chúng tập trung không quân, hải
quân đánh phá rất ác liệt vùng “cán soong” nam Quân khu 4
và cắt cổ họng đường 20. Chúng mở nhiều “tam giác lửa”
như Truông Bồn - Bến Thủy - Đồng Lộc, Khe Ve - đèo
Ngang - Truông Bát. Trên tuyến Binh trạm 14 có “tam giác
lửa” sông Nậy - sông Gianh - sông Son bằng thủy lôi phong
tỏa; đèo Đá Đẽo - phà Xuân Sơn - bến kho hàng Phong Nha,
Cù Lạc, Khương Hà ngày đêm đánh phá bằng từ trường,
bom nổ ngay, nổ chậm. Ở cổ họng đường 20 chúng mở trọng
điểm Chà Ang (km12 - km14), bắn tên lửa vào vách đá dựng
đứng làm tắc đường. Tại km 16 và km 32 Khe Diêm địch
đánh bom phá, bom sát thương, từ trường; thả cây nhiệt đới
thu phát tín hiệu chỉ dẫn cho máy bay đánh phá. Tam giác
lửa và cổ họng đường 20 trở thành quyết chiến điểm không
kém gì Ngã ba Đồng Lộc.
Dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh 400 và 500, cả Quân
khu 4 ra trận, đảm bảo giao thông chi viện cho chiến trường
miền Nam. Thế nhưng thời gian tắc đường nhiều hơn thông.
Chân hàng Đoàn 559 cạn kiệt. Đói nhất là xăng dầu. Xe 559

bất động, Bộ Tư lệnh chia từng lít xăng dầu cho xe đi cứu
đói. Tại Tổng hành dinh, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp
suốt đêm không ngủ vì xe không qua được Chà Ang. Bao
nhiêu biến cố xẩy ra: Quân đi B dừng lại; sư đoàn Quân giải
phóng lùi ra xin ăn, Tiểu đoàn 7 giao liên của Binh trạm 14
phải nuôi ăn cho một vạn sáu ngàn người.
Lệnh của Bộ Tổng tư lệnh gửi Bộ Tư lệnh 500: “Bất kỳ
giá nào cũng chuyển xăng cho Đoàn 559”. Bức điện tâm
huyết: “Gửi Hoàng Trá. Nếu Binh trạm 14 không tiếp xăng
vào sẽ có hàng vạn bộ đội bị chết đói. Đồng Sĩ Nguyên”.
Binh trạm 14 kết bè xăng phuy từ bến đò Vàng xuôi
dòng sông Nậy, ngược sông Son đến gần Cường Hà vướng
thủy lôi nổ. Xăng và máu của chiến sĩ loang lổ một khúc
sông. Ba ngày đi tìm vớt thi hài liệt sĩ chưa đủ... Thượng sĩ
Phạm Chơn lái ca nô lướt sóng phá thủy lôi, Đại đội Cầu Đội
15 kết bè vỏ phuy thủng nghi binh đánh lạc hướng địch.
Vùng tam giác lửa có Đội 15 thanh niên xung phong Thanh
Hóa, Đại đội 16 phà Xuân Sơn và Đội cầu 10 giành dật từng
giờ với địch, đảm bảo giao thông cho xe Tiểu đoàn 734 và
Đại đội 21 đưa từng chuyến hàng từ đèo Đá Đẽo, Khương
Hà, Cù Lạc, Xuân Sơn, Phong Nha vào Tổng kho A.
Tại trọng điểm Chà Ang - km 16, Tiểu đoàn 335 công
binh và Tiểu đoàn 23 thanh niên xung phong dùng bộc phá,
mìn định hướng đánh những khối đá lớn thông đường cho
xe Tiểu đoàn 781 vượt qua. Đường thông rồi lại tắc, tắc lại
thông. Cuộc chiến cứ thế diễn ra cho đến khi thuốc nổ và
mìn cạn kiệt thì gần như đường tắc triền miên. Tỉnh đội
Quảng Bình chi viện 2 Tiểu đoàn 49 và 84 cùng 3 Tiểu đoàn
1050 và 3030 đi B, dừng lại chuyển tải từng phuy xăng, cân
hàng vượt qua trọng điểm. Địch thả mìn vướng nổ trùm lên

cả suối Chà Ang. Có lúc đưa được 30 phuy xăng ngược suối
Chà Ang thì 29 chiến sĩ hy sinh. Cái giá quá đắt nhưng phải
chấp nhận.
Trung đoàn cao xạ 224 và Đại đội 16 bảo vệ khu tam
giác lửa Chà Ang đã bắn rơi 4 máy bay Mỹ và nhiều chiếc
khác bị thương; Chiến sĩ Đại đội 20 thông tin của binh trạm
đổ máu vẫn đảm bảo thông tin thông suốt cho chỉ huy; Chiến
sĩ quân y thầm lặng cấp cứu thương binh dưới ánh đèn măng
xông trong hang đá Chà Ang. Cơ quan chỉ huy Binh trạm ở
Cổ Giang hai lần trúng bom, nhiều cán bộ, chiến sĩ và nhân
dân hy sinh.
Vui nhất là đêm 14/8/1968. Gần một trăm xe Tiểu đoàn
781 chở gạo, xăng... vượt Chà Ang - Khe Diêm an toàn.
Tổng Tư lệnh gửi điện khen Binh trạm 14. Một trăm năm
mươi ngày đêm, mồ hôi, máu và nước mắt của cán bộ, chiến
sĩ, thanh niên xung phong trên đường 20 chảy xuống mặt
đường, xuống dòng suối Chà Ang ra động Phong Nha; hòa
với mồ hôi, máu và nước mắt cán bộ, chiến sĩ, thanh niên
xung phong trên đường 15 Xuân Sơn, Phong Nha, Cù Lạc,
Khương Hà... đã làm cho nước sông Son thắm tình đồng
đội, thêm tình thương, thêm nỗi nhớ.
Ác liệt đến đâu rồi cũng đến ngày kết thúc, kẻ thắng
người thua. Ngày 30/10/1968, Tổng thống Johnson tuyên bố
ngừng ném bom miền Bắc. Bà Nguyễn Thị Bình ung dung
bước vào hội nghị Paris mở đầu cuộc hội đàm bốn bên, bàn
việc Mỹ phải cút, nước Việt Nam do người Việt Nam tự giải
quyết. Thắng lợi ấy có máu của cán bộ chiến sĩ Binh trạm
14 đã đổ xuống Chà Ang, Xuân Sơn, sông Son..., hỏi có ai
còn nhớ? Còn tôi vẫn nhớ bài thơ Đêm đi vào lịch sử của
Chính ủy Nguyễn Việt Phương viết tháng 10/1986 tặng các


chiến sĩ trên đỉnh Chà Ang:
... Chà Ang ơi! Đã trăm năm mươi lẻ đêm
Núi, người không ngủ
Lắng tiếng Chà Ang, trăn trở không yên
Giặc Mỹ bom và lửa, nước Chà Ang sôi
Rừng Chà Ang đỏ rực
Cửa khẩu đường 20: A-T-P và 5 năm rực lửa
Ngày 01/11/1968 Mỹ ngừng ném bom miền Bắc.
Ngày 05/11/1968 không quân Mỹ dồn lực lượng hòng
cắt đứt hai cửa khẩu đường 12 và đường 20. Trên trọng điểm

liên hoàn cua Chữ A - ngầm Ta Lê - đèo Phu La Nhích (A-
T-P), mỗi ngày đêm hàng trăm lần chiếc máy bay đánh phá,

trong đó có đến 30 - 45 lần chiếc máy bay chiến lược B52
ném bom rải thảm. Máy bay OV10 và AD6, C130 thay nhau
trinh sát, canh gác bầu trời. A-T-P ngày đêm rực lửa.
Lực lượng công binh gồm Tiểu đoàn 33 Binh trạm 12
và C5 thuộc Binh trạm 14 đảm nhiệm đã chịu nhiều tổn thất.
Cụm trọng điểm bị tắc nghẽn nhiều đêm, Binh trạm 14 phải
tổ chức gùi hàng khẩn cấp cho Đoàn 559.
Một mặt, các lực lượng công binh bám trụ, thông đường
trên tuyến chính, mặt khác, một lực lượng lớn đã bí mật mở
các đường vòng tránh, hình thành 4 trục đường 20 A, 20 B,
20 C và 20 D cùng với 4 ngầm vượt sông Ta Lê. Trọng điểm
A-T-P được giải toả. Hai Tiểu đoàn xe 781 và 965 của Binh
trạm 14 vận chuyển được 3.900 tấn hàng và bảo đảm cho
3.250 xe nhập tuyến thành công.
Địch bỏ đánh ngăn chặn trọng điểm cố định, chuyển
sang săn lùng mục tiêu di động. Cửa khẩu đường 20 trở
thành “Chiến trường điện tử - chiến trường tự động hóa”
ngăn chặn chi viện chiến lược của Hoa Kỳ. Suốt đêm, máy

bay săn tìm đội hình xe trên đường, đón đánh đầu, khóa đuôi;
ném bom phá đường, bom sát thương, bom cháy, bom bi;
bắn Rốckét, đạn 20 ly..., cùng một lúc hòng đánh tắc đường,
tiêu diệt cả xe, công binh và cao xạ ứng chiến.
Ban đêm, máy bay Mỹ còn đi “cài bẫy” bom hẹn giờ, từ
trường moden mới, thả cây nhiệt đới, máy thu tiếng động,
kính hồng ngoại, máy tìm kho dưới lòng đất. Khi có xe qua
là chỉ điểm cho phản lực đến đánh. Địch còn thiêu đốt cây
rừng bằng chất độc màu da cam, bom Napan, bom cháy để
tìm bãi xe, kho tàng và phát hiện những đoạn đường kín.
Trên đường giao liên hành quân bộ, địch cũng thả cây
thu tiếng động, máy đánh hơi người để chỉ điểm cho máy
báy đến đánh. Ông Trần Thiết còn nhớ: Trận đầu mùa khô
ta bị thiệt hại nặng. Hơn trăm xe bị vây đánh ở km 58 - km
68. Suốt đêm bom rơi đạn nổ, xe cháy, pháo sáng rực trời.
Tham mưu phó Trần Thiết với Lương Mạnh Trác (Ban
Tham mưu Vận chuyển) chỉ huy xe phóng từ, kéo xe bị bắn
hỏng, cùng với thanh niên xung phong thông đường, cấp cứu
thương binh, chôn cất tử sĩ xong thì trời hửng sáng.
Sau trận đó, ta tìm cách đối phó: Xe Tiểu đoàn 781 và
52 mang theo “công sự di động” bằng nhiều lớp nứa che
chắn, bảo vệ buồng lái, thùng xăng và lốp xe. Lái xe đội mũ
sắt, mặc áo giáp. Đội hình xe chạy từng tốp, giãn cách xa,
chạy nhiều đường, nhiều hướng từ ngoài vào và trong ra, rải
rộng trên toàn tuyến. Không đi đội hình tập trung; không cố
định thời gian chạy.
Công binh mở thêm nhiều đường xương cá hai bên
đường, có công sự để lái xe ẩn nấp khi bị địch chặn đầu khóa
đuôi; Cao xạ, công binh bố trí phòng ngự phân tán, sẵn sàng
ứng chiến khi xe gặp hiểm nguy; Sử dụng thiết giáp và tăng

phóng từ phá bom từ trường dọn đường. Những lúc xe phóng
từ gặp sự cố, trong trường hợp khẩn cấp, lái xe sẵn sàng cảm
tử cho xe lướt nhanh qua bãi từ trường.
Tôi còn nhớ đêm ấy trên đèo Phu La Nhích, chiến sĩ
Nguyễn Quang Khải cảm tử phá bom từ trường. Xe rơi
xuống vực, Khải hy sinh khi bom vẫn chưa phá hết. Võ Quốc
Khánh vừa kêu gọi: “Giờ phút hiểm nghèo...” thì xe Anh
hùng Khúc Văn Lượng đã xông lên phá tiếp. Năm quả nổ,
Lượng ngất xỉu trên vòng tay. Đường thông, cả đoàn xe 781
vượt qua an toàn.
Bác Hà Huy Hợi nhớ lại: Mùa khô năm ấy xe hỏng,
cháy, lái xe thương vong nhiều. Bộ Tư lệnh 559 điều bác về
làm Binh trạm phó Binh trạm 14, phụ trách kỹ thuật. Bác đã
chỉ đạo khôi phục đầu xe, nâng cao hệ số kỹ thuật. Nhờ đó
khối lượng vận chuyển không ngừng được nâng lên.
Thất bại trong đánh phá săn lùng mục tiêu, địch chuyển
sang săn lùng mục tiêu di động kết hợp với ngăn chặn trên
trọng điểm cố định. Khi chúng mở trọng điểm Chà Là để
đón lõng xe sau khi vượt Ta Lê trên 4 trục đường A, B, C,
D, thì chỉ 18 ngày sau, ta mở đường QZ 25 dài 16 km.
Thủ đoạn cuối cùng, chúng sử dụng máy bay AC130
bắn đạn 20 ly và 40 ly vào các đoàn xe chạy đêm nhờ có khí
tài điện tử tự động hồng ngoại tuyến, tia laser nhìn rõ mục
tiêu. Để đối phó, ta lại mở đường kín (đường K) chạy ban
ngày kết hợp chạy đêm trên tuyến trống. Hệ thống đường K
của Binh trạm 14 bắt đầu từ km 58 đường 20 A rẽ trái, vượt
Ta Lê nối vào mạng đường K của các Binh trạm phía trong.
Cửa khẩu đường 20 lúc này trở thành “trận đồ bát quái
xuyên rừng” như rắn nhiều đầu, như Phật Quan Âm nghìn
tay nghìn mắt.

Bom đạn Mỹ đã hủy diệt rừng xanh của Trường Sơn
thành “sa mạc”; “Chiến tranh điện tử - tự động - hóa học
hóa” của đế quốc Mỹ đã biến cửa khẩu đường 20 thành biển
lửa. Nhưng ngày đêm, Tiểu đoàn xe 781 và 52 vẫn liên tục
đưa người, hàng hóa và trang bị kỹ thuật vào chiến trường
miền Nam, năm sau nhiều hơn năm trước.
Hết kế. Mỹ thua, Mỹ cút. Đường 20 Quyết thắng đã
thắng!
Nhớ tháng 3 năm 1973, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp
vào thăm chiến trường A-T-P. Đứng trên đèo Phu La Nhích
lộng gió, Người nói ... “ Đây là một kỳ công - kỳ tích - kỳ
quan, do ý chí độc lập - tự do của chiến sĩ và thanh niên xung
phong chống Mỹ cứu nước làm nên”...
Thương ôi! Các liệt sĩ còn nằm trên đường 20. Cầu xin
cho các linh hồn siêu thoát về Nghĩa trang Trường Sơn, về
Đài Tưởng niệm Bắc Sơn, Ba Đình, Hà Nội - nén hương
thơm ngát bên Lăng Bác Hồ.
Cuối bài này, tôi mong muốn những đồng chí, đồng đội
của tôi đã sống, chiến đấu trên đường 20 Quyết thắng hãy
cùng nhau ôn lại những năm tháng hào hùng đã qua để
hướng tới những cái tốt đẹp nhất; từng người, từng đồng đội
thủy chung, trong sáng nhất.
Hà Nội, tháng 3 năm 1997


TRÍCH "CON ĐƯỜNG KÌ CÔNG, KÌ TÍCH, KÌ QUAN"

vnp_hoi_hoa_xuan_ecopark_2019_1

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com