Dân Đình Bảng là dân buôn, có nghề nhuộm thâm, sơn mài, làm ruộng ...Nhưng thường ở vị trí ông chủ, bà chủ, nét riêng độc đáo của người Đình Bảng là :
Anh về vui với cày bừa
Để em tay nải gió đưa phương trời
"Về vui với cày bừa'' ở đây về làm ông chủ trông coi thợ cày lực điền đến làm thuê cho nhà mình Ở Đình Bảng trước 1945 cứ con trai đến 18 tuổi ta là được làng chia cho 5 sào ruộng, nhà 2 con trai cộng cả bố, ông nội là có 2 mẫu, chả tội gì mà phải đi cày...Phụ nữ trong nhà ̣ bà nội, mẹ chồng, nàng dâu, đến mùa mua thóc vào đầu cơ đến tháng ba ngày tám được giá bán thóc ra... Mỗi họ, mỗi nhà là một ''công ty kinh doanh tổng hợp''... ông chủ (ông nội, con trai cả) ngồi nhà cầm chịch lũ gia nhân người ăn kẻ ở ''Sáng ngày vác cuốc thăm đồng'', ''chồng canh nông vi bản, vợ phi thương bất phú'' dân Đình Bảng đi 2 chân ''công nông'', ''thương nghiệp'' thực hiện cơ chế thị trường rất nhanh nhạy ''kim ngọc mãn đường'' là thế.
Là dân buôn, sẵn tiền, đi đó đi đây nếm món ăn thiên hạ nên rất sành ăn... phú quý sinh lễ nghĩa: ở Đình Bảng một năm có 365 ngày thì trên 250 ngày có cổ bàn Làng như ''thủ đô'' thu nhỏ, khách tứ xứ về giao dịch buôn bán tấp nập ngày đêm Dân Hà Nội các nơi về Đình Bảng đánh bạc, ăn chơi tiêu tiền... Do đó nhu cầu ẩm thực ăn uống ở Đình Bảng rất coi trọng Nhiều cơ sở chế biến thực phẩm được mở ra, phát triển như nấu rượu - ''quốc lủi Đình Bảng'' ngon đến cỡ Văn Cao, Nguyễn Tuân, Kim Lân phải đặt mua, giò chả ở cánh nhà ông Phó Giáp ở xóm Đình Ngang tầm giò chả Ước Lễ bên Hà Đông, phở gánh ông Ba Hành, bánh xu xuê bà Lụa, cháo sườn bà Tí Tỏn một thời lừng tiếng...
Các cỗ vào đám, khao vọng, cưới hỏi, lễ hội ''khách ba, chủ nhà bảy'' các đám bạc ngày đêm chạy hết công xuất, cô đầu, con hát các nơi được đón về phục vụ... đã ''chơi'' thì phải ăn, miếng ngon được người Đình Bảng chế tác ''sướng mồm khách đến, túi đầy khách đi'' (Tục ở đây khách được mời đến ăn cỗ, ra về đều có "phần" hậu hỉ mang về)
Với người Đình Bảng ăn không phải để no, để bổ mà còn là để sướng. Kiếm được nhiều tiền là phải chơi, phải hưởng thụ... do đó không được chém to kho mặn mà phải nấu nướng sao cho ngon để khi ăn, nhắm rượu là một sự thưởng thức.
Ngay món "mộc tồn" ̣(thịt chó) là món khoái khẩu rẻ tiền phổ cập ở nhiều nơi là món dồi, luộc, nướng... thì ở Đình Bảng "món nhựa mận", "món om xương" chế tác có khác, để dễ ăn món om cho thêm ít "củ chuối thái miếng" + riềng + mẻ vừa để khử mùi tanh mùi hôi , giảm vị ngậy.
Thịt chuột đồng là món ăn chơi lúc khi nhàn, vào tay người Đình Bảng cũng chế biến thành cỗ đặc sản để thưởng thức và thiết bạn...Vì thế mới có câu đồn thổi "Cỗ Đình Bảng không có món thịt chuột là không to'' một cách ngoa truyền nói thêm cho vui câu chuyện Khi làm cỗ: mâm cao cỗ đầy những giò nem ninh mọc thì bao giờ cũng có bát '' om chuối xanh''- đó là món chuối xanh già (chưa chín) đã tước 1/2 vỏ ngoài, thái nhỏ, nấu nhừ thành bột với nước xương... Trong bữa ăn món này thường được ''đụng đũa'' và hết trước nhất. Ăn xong tráng miệng có bánh xu xê , chè kho... Người Đình Bảng khi có món ngon thường bày cỗ, trước hết là đưa lên bàn thờ làm lễ cúng gia tiên (có một bát nước mưa, ba chén rượu) - sau khi tàn một tuần hương nhang, chủ nhà mới hạ cỗ mời ông bà, bố mẹ ''ngồi lên trên''... nếu là con thứ đã ra ở riêng thì sai con cháu bưng mâm sang biếu ông bà, bố mẹ ở bên nhà anh trưởng Nếu là con rễ thì đem mâm cỗ xuống biếu bố mẹ vợ.
Vào mâm cơm, với người Đình Bảng được ông bà cha mẹ dạy dỗ từ bé, gắp món nào trước, món nào sau cũng theo phép tắc của nó, trong đó có món rau, món xào là đụng đũa đầu tiên, kết thúc là món xôi chè hay bánh xu xê để tráng miệng Ăn có mời ''kính các cụ...'' ăn xong có thưa ''xin phép các cụ...''
Trước vào bữa có ''bề dưới'' bưng chậu thau nước sạch để ''các cụ rửa tay'' ăn xong có nước rửa tay , xúc miệng ,xỉa răng... có khan lau miệng lau tay tử tế (cứ như nhà hàng, khách sạn bây giờ) Khi xỉa răng phải đưa tay che miệng, xong dứt tăm đi, không được xỉa ngậm mãi ở mồm.
Phụ nữ Đình Bảng váy lụa lưỡi chai, buông chùng quét đất, thắt lưng hoa cải hoa cà, áo dài nâu 2 tầng , khuyên vàng xà tích xúng xính... Sau khi sinh con độ một tuần là đem mướn nuôi (ở vú) để ''tay nải gió đưa'' lên xe, xuống tàu kinh doanh buôn bán...nhưng mà rất hiếm chuyện trăng hoa, mãi kiếm tiền về cho ''đức ông chồng'' đủ ''ngày ba bữa rượu, sáng ra chè mạn, chè tàu...'' do vậy phụ nữ Đình Bảng thường không tham gia việc đồng áng, nội trợ... nấu ăn khéo thường là đàn ông. Sung túc vợ đi vắng, ở nhà nhàn cư vi sinh ra ăn chơi, cờ bạc... xoàng nhứt cũng là mấy anh em tổ chức đi săn chuột đồng, bẫy chim, đi đầm hồ bắn chim trời vịt nước, thậm chí lên cả mạn ngược săn thú rồi chế tác thưởng thức các món thịt rừng, cá suối... người Đình Bảng sành ăn là vậy.
Hàng quà ở Đình Bảng không khác gì ngoài Hà nội ,điều đặc biệt là hầu hết do chính người dân Đình Bảng làm ra phục vụ nhà hàng, người nơi khác khó chen chân vào được.
Sáng ra nào bánh khúc nóng, bánh giò, bánh tẻ, bánh rợm, phở, bún các kiểu... Nhà tôi ở cạnh nhà chị Nhung xóm Đình chuyên tráng bánh cuốn từ thời còn con gái tới tuổi lên bà, bánh cuốn chị Nhung ngon như bánh cuốn Thanh Trì ,ngoài bán trong làng (tự đến nhà "đặt" mua), còn là đem lên bán trên chợ Giầu.
Trưa là giò chả, nem, bánh dày giò, thịt quay phục vụ bữa ăn trưa. Tối là các quán ''nhậu'' chặt ních người bia rượu chén tạc chén thù... Rồi là các gánh hàng rong (phở cháo) phục vụ cánh ăn chơi, dân buôn bán mãi tới khuya...
Ăn uống ở Đình Bảng là một thứ dịch vụ hoạt động 24/24 rất tiện lợi cho một làng đã đô thị hóa Khách đến Đình Bảng bị đói, nhỡ bữa ...vấn đề thì phải có tiền thì có ăn có uống có chỗ chơi để tiêu hết tiền hưởng điều ''tứ khoái''.
Từ xưa đã có câu ''ăn Bắc mặc Kinh'' (ăn ngon như Kinh Bắc, mặc đẹp như Kinh Kỳ) đến Đình Bảng có lẽ sẽ thấy đủ cả hai của người Kẻ Báng