bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
PHẢN HỒI MỚI

AI give me this

HAS MOTHER’S MEMORY FADED INTO OBLIVION? A Poem of Love, Time, and Farewell Long ago, I kissed my mother goodbye, She stood in tears beneath the parting sky. I walked away with laughter in my eyes, ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

CŨNG CHẢ CÓ GÌ GHÊ GỚM!THƠ NOBEL CŨNG CHỈ THẾ THÔI!SAO MÀ CÁC NHÀ THƠ VIỆT NAM CỨ PHẢI ƯỚC AO! HE HE HE...

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BẠN ĐÃ GHÉ TRANG VÀ BÌNH LUẬN!

 

0915708232

Nổi lòng của một thời rong ruổi mà đi lên

 

VŨ NHO 085 589 0003

ẢNH ĐẸP QUÁ! CÁM ƠN NHIẾP ẢNH GIA HOÀNG VĂN NĂM!

 

VŨ NHO 085 589 0003

CHÚNG TÔI ĐÃ GIỚI THIỀU MỘT SỐ CHƯƠNG TRONG TÁC PHẨM DON JOAN DO NHÀ VĂN, DỊCH GIẢ THÁI BÁ TÂN DỊCH. LẦN NÀY CHÚNG TÔI GIỚI THIỆU TIẾP BẢN DỊCH TIỂU THUYẾT BẰNG THƠ "EVGHENHI ONHEGHIN" CỦA PUSKIN DO D...

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 49
Trong ngày: 1049
Trong tuần: 3611
Lượt truy cập: 2005669

NGUYỄN THAM THIỆN KẾ giới thiệu

nui_xanh

CẦM GIANG VỚI MỐI TÌNH ẨN KHUẤT VÀ MIỀN THƠ TÂY BẮC
Nhắc đến Cầm Giang người ta nhớ ngay những bản dịch thơ tiếng Thái nổi tiếng thuở nào. Nhiều độc giả và không ít nhà văn nhà thơ mặc tưởng Cầm Giang sinh và lớn lên ở Tây Bắc. Phải là con đẻ của Tây Bắc mới làm thơ và dịch thơ về Tây Bắc ám ảnh đến thế.
Và tôi, nếu không có cuộc gặp ngẫu nhiên với người quen cũ của nhà thơ buổi chiều cuối thu Sài Gòn thì trong ký ức giáo khoa thư cũng đã yên bụi phai mờ về ông.
Cụ bà cán bộ ngân hàng hồi hưu, ngoại bảy mươi, quá vãng xuân sắc vẫn nguyên nét sự sang trọng, kiêu hãnh ở nụ cười ghìm giữ, ở mái tóc bạc suông mềm, ánh nhìn lắng trầm và cử chỉ khoan thai sắp có vẻ chậm. Căn phòng trên tầng mười một cửa mở hướng Tây - Bắc, gió lay dãy chậu cảnh, tung lá rèm lách cách khua những vòng treo.
Biết tôi là nhà văn ở Bắc, sau nửa ly vang lạnh, hồi ức những câu chuyện xưa của người đàn bà đa đoan bỗng nhắc địa danh Thái nguyên đặc sản trà Tân Cương... giai điệu dân ca bản địa sli, lượn và nhà máy thép với âm sắc bỗng dịu dàng. Nụ cười phiêu du, bàn tay xếp chéo nhau trên bàn, bà nhìn vào màu rượu tím, hay là ánh xạ của pha lê. Một câu hỏi thẳng, như là lời tự sự:
- Ngoài Bắc, cháu nghe mấy ai còn nhắc đến Cầm Giang nữa không?
Ngỡ ngàng, tôi không chuẩn bị để nghe một cụ bà đài các từng là cán bộ quản lý tiền vàng nhắc về Cầm Giang. Chưa kịp giao lễ thì bà đã nối tiếp qua nụ cười rưng rưng:
- Mấy mươi năm trước, tôi là trại viên trại sáng tác văn học nghệ thuật quân khu việt Bắc mà Cầm giang làm trại trưởng. người thơ đã tặng tôi một quyển sổ bìa giả da màu nâu và chiếc bút máy kim tinh... Anh ấy làm y tá của nhà máy thép, đôi lần tôi cảm cúm đều len lén đưa thuốc chữa bảo tôi uống... Mấy bài thơ tôi làm, tự anh ấy chép lại ngay ngắn, chân phương...
Thì ra làm nhà thơ, đôi khi được người đời nhớ đến vì tấm lòng nhân hậu chứ không phải những vần thơ đã viết. và với câu chuyện của bà cụ, tôi cũng nhớ một Cầm giang đã gặp vào những năm 80...
Tư gia nhà thơ Bùi Đăng Sinh, lúc đó ngụ ở làng Thổ Tang, Vĩnh Tường, một làng cổ nơi đỉnh tam giác đồng bằng Bắc bộ đã sinh ra Nguyễn Thái Học, là nơi ghi dấu cuộc gặp của tôi với Cầm Giang. Trước đó, tiềm thức tôi vẫn xác quyết Cầm Giang là người gốc Tây Bắc. Ông đang ở làng bản nào Tây Bắc, ngẩn ngơ ngắm trinh nữ Thái tắm nơi suối vắng rừng hoang mà làm thơ.
Hễ hình dung miền thơ Tây Bắc thì lại thấy miền hoa ban trắng hoa ban hồng và nhớ ngay một giọng thơ Cầm Giang trong trẻo, hồn nhiên chân thật đến nao lòng: Tôi nhớ vợ tôi lắm, xin anh về hai ngày. Tôi càng bắn trúng Tây, vì tay có hơi vợ…
Cầm Giang tài hoa, đôn hậu bao nhiêu thì cũng lận đận bấy nhiêu. Dường như để bù lại những lao lực, trầm thăng, cuộc đời dành cho nhà thơ nhiều hơn người khác một chút, đó là tình yêu. Với tình yêu Cầm Giang có được hương vị ngọt đằm nhất của nó và cũng không kém đắng cay.
Duyên phận bốn người đàn bà đa đoan với nhà thơ đã từng được nhà văn Hoàng Quảng Uyên nói kỹ trong cuốn sách “Ẩn số Cầm Giang” nên tôi không tiếp lạm bàn.
Người đàn bà thứ năm, bên cạnh bà Nguyễn Thị Kiên, người vợ thứ hai ở thôn Khách Nhi xã Vĩnh Thịnh, Yên Lạc, Vĩnh Phúc, luôn là hai hình ảnh song trùng, mờ chồng, đan xen trong miền thơ Tây Bắc của Cầm Giang. Một thiếu nữ người Thái, đã từng được giới chức Phìa, Tạo tuyển chọn từ bé đào tạo bài bản múa xòe bản phục vụ chúng và quan thầy thực dân Pháp.
Lương Cầm Giang nhập ngũ từ Hoằng Hóa, Thanh Hóa năm 1948, trong đoàn binh Tây Tiến vượt biên giới sang Lào rồi vòng về giải phóng Tây Bắc. Và người đẹp Cầm Bạch Thiêm xuất hiện trước mắt ông như bông hoa rừng đẹp quý phái nhưng lại ở trong vòng cương tỏa của bao nhiêu nghi kỵ…
Nhà thơ Bùi Đăng Sinh lúc ấy là giáo viên giỏi dạy văn cấp III. Các nhà thơ kiêm thầy đồ ngày đó không dạy thêm dạy kèm như bây giờ. Các thầy làm thêm nghề lộn cổ áo sơ mi hay bán nước chè nước vối đầu đường góc phố, nuôi lợn trên ban công, nuôi gà đẻ trong buồng.
Nhà thơ kiêm thầy giáo còn có nghề cuốn thuốc lá cối, giao buôn. Một công việc có vẻ mang tính chất sản xuất hàng hóa. Tôi không hút thuốc lá nhưng mỗi lần qua lại Thổ Tang thường ghé Bùi Đăng Sinh. Hoặc nghe ông đọc thơ hoặc uống nước chè tươi ăn ngô luộc hoặc nữa là sẽ có một bịch thuốc lá cuốn. Bùi Đăng Sinh lấm lét nhìn quanh không thấy bóng vợ mới nhét vội thuốc vào chiếc túi vải bạt tôi đeo bên sườn gửi mấy người bạn thơ trên Việt Trì.
Một lần, trong lúc Bùi Đăng Sinh đang vờ xếp những bịch thuốc cuốn một trăm điếu vào thùng giấy, nhờ tôi canh chừng bà vợ để tìm cách bớt xén sản phẩm thì có người động cửa. Tôi giật mình. Bùi Đăng Sinh thì không, thậm chí còn thở phào, nói nhỏ: “Quân ta cả đấy mà”.
Người đàn ông chừng ngoại năm mươi, ngăm đen, cao lớn, nét tròn tròn hiền hậu nhưng tinh anh. Quần áo ka-ki vàng đất. Bên vai áo, một miếng vá trái màu. Mũ lá cũ được gia công khâu lại chắc chắn như một mái lá gồi có thể chịu đựng mọi cơn mưa nắng. Đôi dép rọ màu nâu nhiều ánh tím, kiểu sĩ quan quân đội, hàn vá bằng đủ thứ nhựa khắc màu. Chiếc xe đạp tồng tộc, nơi ghi-đông ngoắc lồng chiếc túi vải bạt vàng vào hai quai bọc vải giả da, góc đáy túi loang một quầng mực thấm như thứ nấm đen, thò lên mấy xấp tài liệu bọc bìa xanh loăn quăn mép rách. Hai ngón tay kẹp điếu thuốc cuốn ám khói như móng giò thui. Thần khí người đó toát lên một sắc vàng nghệ non.
Nhà Bùi Đăng Sinh ngay mặt phố. người đàn ông dựng xe tỳ tường nhà, dưới bệ cửa sổ lớn bày tủ kính bán hàng. Một nửa bánh xe thập thò vào giữa cửa chính để tiện trông chừng.
- Chào Đăng Sinh, chào cậu nữa nhé!
Giọng nói ấm, buồn, tự tin nhưng kín đáo vẻ nghi ngại. Người đàn ông xách túi tiến lại bộ trường kỷ kê giữa nhà ngồi rít nốt mấy hơi thuốc lá cháy chỉ còn như nửa chiếc tổ sâu kèn trước khi tiếc rẻ thả vào gạt tàn.
Bùi Đăng Sinh hồ hởi giới thiệu tôi là chú em vừa đến chơi, nhưng mải việc không giới thiệu người đàn ông đó là ai. Thuốc cuốn một bịch trăm điếu. nước vối một ấm giỏ. Ngô lai luộc một rá. Trái nào cũng cỡ bắp tay, hạt bóng cứng như sỏi cuội tráng dầu. Qua câu chuyện rời vụn giữa hai người, chen đệm những nhịp thở dài và chẹp miệng ngán ngẩm, tôi biết ông cũng là giáo viên Văn như Bùi Đăng Sinh.
Ông hút thuốc điếu nọ nối điếu kia. Cả tầng nhà mờ mờ khói thuốc như đang hun sấy thứ gì đó. Nhẩn nha gặm, những ngón tay thô cùng lúc khéo léo lạ kỳ chỉ nháy mắt đã tách được lưng lòng tay ngô hạt khỏi cùi. Không vội vàng, ông há miệng hất vốc ngô hạt gọn lỏn vào bên trong. Nhai nghiền ngẫm như đang chiêm nghiệm một triết lý về ngô lai. Rá ngô luộc mình ông gặm đến 99,9%. Còn tôi dù đang sức, cố lắm cũng chỉ được nửa bắp. Bùi Đăng Sinh ngó chiếc rá trống không, vui vẻ hỏi khách:
- Nữa không?
Ông khách gật gật:
- Tất nhiên, nếu thi nhân có thể xoay thêm.
Phố làng Thổ Tang thời đó đã là một thị trường dịch vụ nên mua một rá ngô luộc lúc đang mùa không có gì là khó. Bùi Đăng Sinh chéo chân, tựa cửa nhìn mặt đường lục cục chấm đen phân ngựa và ruồi bay, ới một tiếng đã hai ba đám mang ngô luộc tận cửa. Nóng khói.
Rá ngô thứ hai đang vơi dần vài ba phút một nhịp. Chỉ còn biết mắt chữ o mồm chữ y, tôi chiêm ngưỡng tài ăn của người đàn ông cũ cũ hiền hiền mà sau này tôi mới hay là nhà thơ Cầm Giang. Một bạn thơ bạn nghề-nhà thơ Kim Dũng cho hay thêm: Trong một trại viết về giáo dục tổ chức ở Tam Đảo, Cầm Giang đã đạp xe gửi dưới chân núi, rồi cuốc bộ lên. Ông đến muộn, Kim Dũng đi cùng bạn xuống nhà bếp đã chứng kiến Cầm Giang ăn hết veo ba mâm cơm dôi dư, mà còn kèm theo nửa nải chuối. Hằng bữa sau, biết sức ăn của Cầm Giang, ai cũng ý tứ dồn những cơm canh không đụng đũa tới dành cho bạn. Và Cầm Giang cũng chẳng nề hà giơ cao đôi đũa chọc chọc vào khoảng không tiếp nhận sự đồng cảm bạn bè một cách tự nhiên:
- Tôi không có quyền được ốm. Cơ thể tôi là một cỗ máy không đồng bộ, nên tốn kém quá nhiều năng lượng… Không rõ tôi hay Bùi Đăng Sinh mà cũng có thể là ông trong lúc qua lại đã làm rơi chiếc túi vải bạt xuống nền nhà. Có tiếng kim loại va đập xô nhau. Ông khách giật nảy, suýt mắc nghẹn. Kẹp vội bắp ngô vào khe đùi ông hấp tấp nhặt vội chiếc túi vải lên, mở banh nhìn vào trong trước khi đưa tay lần tìm.
Thì ra tiếng kêu kim loại là từ hộp nhôm đựng bộ bơm và kim tiêm. Run rẩy hồi lâu ông mới mở được nắp hộp kim loại. Gương mặt ông bỗng ngời sáng như vừa bắt được vàng:
- May quá không hề suy chuyển. Nó mà có vấn đề, thì dẫu có nhờ mua chui được cũng phải mất nửa năm. Không có cần câu này thì các con tôi thành mèo hoang hết. Hơn nữa nhiều bà con hàng xóm cũng bị vạ lây, đau ốm đêm hôm vời được y sĩ ở trạm xá vào thì cũng sáng bạch.
Bùi Đăng Sinh lại gần ngó nghiêng nhẹ nhõm thốt lên:
- Đây thuộc loại vật tư y tế chiến lược, quản lý rất ngặt mà lại. Thôi ăn mừng được rồi.
Không lâu sau khi cùng với Tất Ứng, một hội viên hội văn nghệ Tây Bắc được Cầm giang giới thiệu và kết nạp về thăm ông ở Khách Nhi, tôi mới biết thêm nhiều điều. Cầm Giang từng là y tá sơ cấp quân y thời kỳ ở Tây Bắc. Cái nghề đưa ông đến mối tình ngang trái với người vũ nữ Thái Cầm Bạch Thiêm, giúp ông nuôi sáu đứa con nên người, giúp ông có thêm anh em người thân còn hơn ruột thịt nơi đất Khách Nhi.
Ông thầy giáo nhà thơ kiên quyết mở cánh tủ buýt phê trịnh trọng bê ra hũ rượu rắn hổ mang bạnh ngâm lẫn thuốc bắc, mật ong. Ba chiếc ly pha lê bụi bám lưu cữu được ông thau rửa nước sôi mấy lần, cuối cùng mới vơi vơi thứ rượu quý. Ông đưa đẩy:
- Hôm nay đại may. Không có lý gì ông lại từ chối chén mừng.
Nâng ly, tôi đợi ông khách quý kia uống thì mới theo. Ông khách xoay xoay hồi lâu ly rượu rắn, như hồi nhớ:
- Gan tôi bị trệ, hậu quả những cơn sốt rét Tây Bắc và do thiếu ăn. Mà cũng có lẽ do ăn quá nhiều châu chấu với măng rừng. Tôi biết mình sức vóc to ngốp, nếu mà nghiện thứ gì thì sẽ nghiện rất nặng. Tôi đã nghiện thuốc lá, nay mà nghiện thêm cả rượu thì chỉ còn cách xẻo thịt mình bán dần may ra…
Ông khách chỉ nhấp ướt môi rồi dằn chén đứng dậy cáo từ. Khổ chủ liền nhanh nhẩu biết ý bỏ cả bịch thuốc đang hút trên bàn vào túi vải bạt. Khách đẩy vội ra. Khổ chủ kiên quyết ấn vào. Nhưng sau mỗi lần khách đẩy bịch thuốc, thì động tác từ chối cứ yếu đuối dần. Rồi ông khách buông xuôi…
- Nể anh quá, lần nào cũng ăn no căng, lần nào cũng nhận thuốc lá…
Lần đâu đó trong người, ông khách lôi ra xấp tiền gấp phẳng phiu, đếm nhanh, nhét vội mấy tờ vào túi khổ chủ.
- Ông cầm một ít gọi là… Ông tuy làm ăn giỏi nhưng đâu đã giàu có gì. Cầm lấy cho tôi thanh thản tí ti.
- Cầm Giang khách sáo từ khi nào nhỉ? Cái này đâu có đáng gì. Tôi cũng vừa gửi cả trăm điếu cho Tất Ứng qua chú em đây này… Không tin Cầm Giang hỏi ngay xem…
Gần như giật ra khỏi sự níu giữ của bạn, ông khách vớ xe đạp bỏ đi nhanh. Cái tên Cầm Giang vừa vang lên như tín hiệu đã mã hóa trong tiềm thức tôi cựa quậy. Tôi cật vấn Bùi Đăng Sinh về cái tên. Có phải Cầm Giang đã có bảy bài thơ trong Tuyển thơ ca Kháng chiến?
- Ô, thế mà tôi cứ ngỡ cậu biết Cầm Giang rồi! Đích thị Cầm Giang “Em tắm”, “Nhớ vợ” đấy mà…
Tôi vọt ra đường quay xuôi nhìn ngược không thấy Cầm Giang mà chỉ thấy những xe thồ xe ngựa và quang sọt gánh gồng tất tả phố làng Thổ Tang. Tôi dám chắc đến 95%, những người ham hố sáng tạo ngôn từ hy vọng ghi tên mình vào chuyến tàu bất tử thì ai cũng bắt đầu bằng dăm bài thơ tình nơi ngực áo. Tôi cũng là kẻ như vậy. Rồ dại mê thơ. Làm thơ để được nhiều cô gái xinh đẹp đem lòng yêu. Mà đọc thơ Cầm Giang thì lại thấy da thịt đàn bà lồ lộ. Thách thức với tuổi học trò quá thể. Một thứ da thịt vừa đủ độ chân thật sau màn sương mờ trí tưởng tượng. Hơn một lần tôi ngỡ mình là Cầm Giang đang nhìn trộm người đẹp Tây Bắc tắm tiên. Và tôi cảm giác, hẳn Cầm giang có mối ẩn ức với nhan sắc Tây Bắc. Đọc thơ ông giữa chừng tôi phải buông mà đặt câu nghi vấn. Chắc chắn như vậy không à? Thưa thi nhân Cầm Giang. Và chính Cầm Giang đây, người tôi vừa thấy mặt.
Lần thứ hai tôi diện kiến Cầm Giang năm đó giữa lúc thu đương mùa. Phố Thổ Tang thêm người đội nón mê bê ngang sườn rổ hoa sen, gương sen bán dạo. Lại Bùi Đăng Sinh và Cầm Giang đối thực một rá lạc luộc lùm ngọn. Cầm Giang vừa nhả khói thuốc vừa nhằn vỏ lạc non pầng pậc. Lần này, tôi quan sát Cầm Giang kỹ càng. Những chấm nốt ruồi quanh cổ, sau tai, vạt da má nám. Mắt long lanh, sao vẫn âm u. Sơ-mi nhờ nhờ trắng, lấm tấm trứng rận dài tay, vén quá khuỷu, lộn cổ. Quần ka-ki bích-kê hai đầu gối thì hẳn sẽ bích-kê sau mông (tôi khẳng định vậy). Dép cao su đúc. Móng chân cắt sát, nhưng váng phèn đỏ như mai cua phơi. Túi thuốc có logo quân y.
Khổ chủ Bùi Đăng Sinh, vợ con đi vắng, có lý do mạnh dạn mời cơm. Ông giáo chắc không mấy khi vào bếp nên làm bữa mà cứ như đánh trận công đồn. Hành mỡ xèo xèo. Khói tuôn ngùn ngụt. Bát đũa dao thớt va nhau như dàn nhạc đại bộ gõ. Tôi và Cầm giang bóc tỏi, nhặt rau muống ngay trường kỷ.
Giữa khoảnh khắc ông đồ Sinh nho nhã chân thấp chân cao hết lướt vào gian bếp lại lượn ra ngoài phố, tôi rón rén thưa chuyện. Nghe tôi kính cẩn gọi bác, Cầm Giang ném toạch nắm gốc rau muống vào xô rác. Giọng nhỏ nhẹ, hơi có vẻ tủi thân:
- Cậu gọi Đăng Sinh thế nào thì gọi mình như thế cho tiện. Người thì anh người thì bác, nghe bất công quá. Mình đâu đã già lắm…
Đọc được sự tự tin trên gương mặt tôi, Cầm Giang bập bập hơi thuốc:
- Có lẽ bất cứ việc gì của người đàn ông việt từ làm ruộng, đánh dậm, đánh giặc, đào than, đóng gạch, xây nhà, mót sỏi, mót cát, tôi vôi lẫn tiêm chọc con người ta nhì nhằng, mình đều làm tốt. Hơn nữa tại nước da hơi ngăm đen…
- Thưa, anh… anh Cầm… Giang đã mấy dịp về thăm người đẹp nơi Tây Bắc năm xưa?
Tôi hỏi câu hỏi ấy chỉ vì sự ám ảnh từ những bài thơ Cầm Giang. Bỗng nhà thơ lặng đi run rẩy khiến những ngọn rau muống héo rời tay. Hơi thở nấc lên, ông nhìn theo con ngựa già gò lưng kéo xe qua cửa:
- Chuyện… đó… đó... kín thế… lâu thế… mà cậu cũng biết hay sao?
Vô tình tôi sắp biết một bí mật thuộc về Cầm Giang mà có thể chưa ai hay. Khoan khoái và đắc thắng cách trẻ con, tôi nhếch cười. Quả là bất nhã, nhưng thưa bạn, nếu như là bạn thì có hãm cháy phanh đứng khựng giữa đường trong lúc câu chuyện vừa chớm pha gay cấn? Tinh quái, tôi dấn tiếp:
- Nàng Cầm… Cầm… gì ấy… anh Cầm Giang nhỉ…?
- Thì là Cầm Bạch Thiêm chứ còn gì nữa mà cậu còn giả vờ…
Tôi đã linh cảm không lầm. Một cái tên! Một cái tên đã được nhà thơ thốt ra đau đớn lẫn yêu thương. Lúc này thì tôi không còn chọn lựa nào khác là thú nhận với Cầm Giang. Tôi đã bắt bài ông bằng linh cảm và qua cái bút danh ông mang. Tôi thèm được nghe toàn bộ sự thật về người đẹp Cầm Bạch Thiêm…
Cầm giang thở dài.
- Sự thật người ta không tìm, thì mình sẽ phải tự thú là lẽ thường. Nhưng mong cậu ý tứ, vì mình đã có quá nhiều rắc rối với đàn bà và với cuộc sống tội nợ. Mình được đàn bà họ yêu chỉ vì cái tính ăn khỏe và thật thà thôi. Cầm Bạch Thiêm thì khác…
Những năm năm mươi khi đơn vị từ Sầm Nưa trở về Tây Bắc, chàng lính trẻ vừa học xong lớp y tá sơ cấp được phân công đi vận động quần chúng ở bản Thái mươi nóc nhà. Cách nơi đóng quân hơn chục cây số rừng. Vận động quần chúng là phải ba cùng: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm. Lối vào bản ấy phải vượt qua dòng suối sâu ngang ngực. Nước xiết, xanh biếc rêu, cá sỉnh, một loài cá đặc sản ở sông suối Tây Bắc, nhiều vô kể.
Ngay hôm đầu nhìn thấy bản Thái đó chàng đã lâm cảnh huống cười dở khóc dở. Đang trần truồng đội ba lô súng đạn lên đầu lom khom băng qua suối sâu trước bản thì nàng xuất hiện nơi bờ bên. Chậm rãi, đầu tiên Nàng đưa chân xuống nước. Bước một, Nàng tiến ra xa xa bờ lau, bới cao mái tóc lên đỉnh đầu. Chẳng biết chiếc áo bó đã tuột xuống thắt lưng Nàng từ lúc nào. Sao anh lại rình/Trộm xem em tắm/ Da của em ngần trắng/ Da của ái của êm/ Da của em trắng ngần/ Là của anh tất cả/... Em tắm giữa suối Mường/ Tắm trong mối yêu thương… Chàng lính trẻ hổn hển cháy khát, phải nuốt vội ngụm nước suối đầy.
Nàng tung nước lên đôi nhũ hoa hồng hồng nụ. Da thịt và nước mát lóng lánh dưới ánh mặt trời hắt ra rực rỡ của pha-lê. Nàng khẽ khẽ hát khúc ca tình ái nào đó. Rập rờn cánh bướm và sắc hoa ban. Chính lúc đó ánh mắt hai người chạm nhau. Tối đó loanh quanh một hồi, Chàng khoác ba lô dừng trước lối lên nhà nàng. ngôi nhà sàn bề thế nhất bản. Đó là lối duy nhất trong bản không cắm cành lá cấm người lạ vào nhà. nhà nàng có người làm ruộng chăn trâu, có anh chị đã dựng vợ gả chồng, có ông bố già nghiện thuốc phiện, ôm bếp lửa khư khư. Trong khung ảnh gỗ gụ trên vách nhà sàn là những bức ảnh nàng chụp với đội xòe cùng mấy vũ công người Pháp. Bữa tối có hũ rượu cần. Cá sỉnh ướp muối nướng. Cơm nếp Tú lệ. Chăn bông mới, đệm lau mới. Và có ánh mắt trinh nữ e lệ lẫn buồn rầu.
Đáng lẽ sau một tuần ba cùng thì phải về đơn vị báo cáo một lần. Nhưng chàng y tá lại nằm lì cả tháng trời. Chàng học chơi đàn tính tẩu. Học tiếng Thái để hát dân ca. Đêm trăng sáng, dưới những bóng cây ban tưng bừng hoa dạo mùa xuân nơi đầu sàn, Chàng ngắm Nàng xòe chay trong tiếng đập cánh côn trùng. Tưởng mất người, đơn vị đã tìm đến. Bản Thái được phát thuốc sốt rét, đã nhốt trâu bò ra xa nhà ở. Cỏ vườn được phát quang. Nhưng người chiến sĩ được phái đi ba cùng đã bắt rễ nhầm địa chỉ. Gia đình cô gái có gốc gác Phìa, Tạo. Bản thân cô ta đã đi học xòe phục vụ Tây từ bé…
Kể đến đây Cầm Giang rũ xuống như tàu lá héo. Ông nhìn quanh tìm cái gì đó. Tôi biết ý đưa ông cốc nước vối đặc. Điếu thuốc cuốn lỏng tay, vụn sợi theo cả khói vào trong miệng, ông không nhằn ra mà nghiến răng nhai nuốt.
- Tệ thế đấy, tôi đã từng là một chiến sĩ có vẻ mất lập trường. hơn nữa lúc đó bố mẹ ở quê cũng bị quy lên thành phần, nên tôi cũng tỏ ra hối hận. Tôi làm kiểm điểm, nhưng sao lại chỉ thấy hình ảnh Cầm Bạch Thiêm hiện lên rực rỡ một giấc mơ hồng… Tôi đã không dám chào nàng, không dám chào gia đình đông đúc của nàng, đang đêm ôm ba lô lội qua sông bỏ về. Tôi đã thật không phải… Nhưng sang đến bờ bên kia, tôi thấy trong ba lô đã có sẵn nắm cơm nếp Tú Lệ, đã có ba con cá sỉnh ướp muối ớt nướng. Và chiếc khăn Piêu!
Rồi Pháp nhảy dù xuống Điện Biên Phủ. Đơn vị cơ động thường xuyên. Cầm Bạch Thiêm nghe đâu xung phong đi dân công hỏa tuyến lại được tuyển vào đội múa…
Vừa lúc Bùi Đăng Sinh lễ mễ bê mâm cơm lên giục giã:
- Nào các vị, ta xoa chân ngồi thôi. Nghe Cầm Giang nói chuyện thì đến sang năm…
Trong bữa Bùi Đăng Sinh đọc thơ. Cầm Giang bình. Ngỡ tưởng ông chỉ hùi hụi ăn, nhưng khi nghe ông nhận xét thì tôi bỗng giật mình vì sự tinh tế, nhạy cảm với chữ của ông. Thế là ôi thôi bỏ lửng câu chuyện về Cầm Bach Thiêm. Ngỡ duyên tôi với ông chừng vậy, nhưng may, một hôm ông biên tập viên già Tất Ứng, người vẫn hay được Bùi Đăng Sinh dấm dúi thuốc lá cho rủ tôi về thăm Cầm Giang ở thôn Khách Nhi. Tất Ứng về chơi Khách Nhi để nhờ Cầm Giang mua hộ lợn con và gà giống về bán kiếm lời. Cầm Giang đang đứng trên ghế đẩu quét mạng nhện hiên trần nhà. Gặp lại tôi, Cầm giang thân mật gật đầu chào:
- Lại là cậu đấy à? Dạo này được ăn tốt hay sao mà có vẻ lên cân?
Không ngờ cơ ngơi ông nhà thơ mà lại có dáng vẻ của một phú ông. Gần bốn sào đất. Ba cái nhà xây khang trang, xếp hàng nhìn ra sông hồng. Cây cối ăn quả, tre bao quanh bờ rào um tùm. Lợn gà rủm rỉm. Cuốc thuổng, xẻng cào, cày, bừa, dậm tép lủng lẳng treo ngang móc dọc tường bếp, hiên sau.
Cầm Giang hô người nhà rang lạc, đích thân xách chai rượu đặt cộp lên bàn. Mắt Tất Ứng rực lên khi thấy tăm rượu nếp lăn phăn trườn ngược.
- Người ta còn gọi anh lên huyện làm khó dễ nữa không?
Cầm Giang khoan khoái trườn người mở cánh tủ chìa ra cả mấy gang hóa đơn, giấy báo lĩnh nhuận bút mấy chục năm trời rồi sổ ghi chép bán gà bán lợn bày trên bàn. Những hóa đơn chỉ có đồng rưỡi hai đồng. Cao nhất là mấy trăm…
- Nếu tôi chả giữ được những thứ này thì chắc khó nói. Nhà thơ từ trước tới nay đã ai tự xây được nhà. Hơn nữa lại là nhà thơ gõ đầu trẻ. Tôi không ngờ chỉ bằng sự tích cóp mà lại xây được nhà. Có lẽ tại áp lực tôi sợ các con mình sau này hèn, không chịu học thì không có chỗ chui ra rúc vào, đỡ chường cái mặt ra nắng mưa. Văn chương là không ít lý do để con người hành hạ con người, nhưng mục đích tồn tại của văn chương là để cứu con người khỏi tuyệt vọng. Ví như là tôi đây…
Tôi có ý chờ Cầm Giang nói tiếp, nhưng Tất Ứng đã đỡ lời, vẻ thông thạo hơn người, bỗ bã chỉ vào chủ nhà:
- Ông này nếu không có giấy chứng nhận dự lớp bồi viết văn do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức và chữ ký của Nguyễn Đình Thi ở mảnh giấy đó, thì chắc chắn không thể chuyển ngành về làm giáo viên Văn ở Ty Giáo dục Vĩnh Phú nổi.
Nhờ sự thuyết phục của những bài thơ về Tây Bắc, cán bộ tổ chức ngành giáo dục Vĩnh Phú đã nhận ông vào dạy văn cấp II, dạy đội tuyển học sinh giỏi cấp huyện. Nhiều người theo nghề thầy. Trong họ bây giờ vẫn còn ám ảnh hình ảnh người thầy thăng hoa truyền thụ, tâm tình trong không gian chật hẹp của lớp học, người thầy đã hé cho họ thấy thế giới siêu vi hồn người qua văn chương…
Gió từ sông Hồng thổi lộng. Sang ngang là Sơn Tây. Chếch ngược dòng là Hòa Bình, một trong lối ngõ vào Tây Bắc. Có tiếng đàn cò rỉa lông trên ngọn bờ tre quắc quặc, Cầm Giang tự hào khoe:
- Chỉ nhờ lũy tre ấy mà tuần nào các con tôi cũng có thịt ăn. Chặt bán một cây tre là được một cân thịt mông sấn.
Tôi băn khoăn không biết giữa nông dân căn cơ bòn tro đãi sạn Cầm Giang với nhà thơ Cầm Giang thì có mối liên hệ với nhau như thế nào. Khó mà tưởng tượng hai con người trái ngược lại hòa hợp trong một. Nhác thấy ngoài sào tre luồn nơi hiên nhà lủng lẳng hai ba chiếc đèn bão, tôi đoán chắc là Cầm Giang thi thoảng soi ếch.
- Anh soi ếch chắc cũng mát tay hay sao mà lắm đèn thế ạ?
Cười mủm, Cầm Giang lắc đầu:
- Tôi soi ếch cũng tạm được. nhưng đèn ấy là để dùng vào việc đọc sách. Soi ếch thì người ta dùng đèn bấm kia. Chẳng là tôi tốt giọng, sách lại sẵn, bà con xóm quanh thì đài điện không có. Đêm nào không vướng việc, tôi đọc sách cho mọi người tập trung kín trong nhà ngoài sân nghe cùng…
Những bộ “Thủy Hử”, “Tam quốc chí”, “Liêu trai” sờn rách sém mồ hôi tay và muội thuốc lá trên giá sách.
Chứa đựng một hồn thơ tự nhiên và phóng khoáng mà sống trong không gian khép kín làng quê Bắc bộ, Cầm Giang còn cách gì hơn là dồn yêu thương vào người thân, vào học trò vào bà con lối xóm, vào thuốc lá và những ván cờ tướng thâu đêm. học trò giỏi thì thầy bỏ tiền riêng mua giấy bút thưởng. Chữa bệnh thì chỉ lấy công không tính lãi thuốc.
Ông bạn già Tất Ứng liếc nhanh sang tôi như khoe mẽ, trước khi hỏi Cầm Giang:
- Này cuốn tiểu thuyết tôi nhờ ông đưa cho Nguyễn Đình Thi đọc giùm đã có phản hồi gì chưa?
Cầm Giang im lặng hồi lâu:
- Ba tháng trước, ông Thi và ông Diệu có ghé qua đây. Nhưng thú thực, tiểu thuyết của cậu chưa ổn, tôi không dám đưa sợ mất thì giờ người ta…
Đận đó tôi hy vọng Cầm Giang tiếp đoạn kết về vũ nữ xòe Cầm Bạch Thiêm, người đẹp khởi nguồn cảm hứng miền thơ Tây Bắc. Nhưng phần vì tôi ngất ngư say, phần vì Cầm Giang không hào hứng hồi cố chuyện cũ. Vâng, cuộc đời làm thi nhân đã là nỗi đau bất tận, vậy nhớ lại vết thương lòng sâu xa thì mấy ai có gan. Cầm Giang cũng không là ngoại lệ chăng?
Rồi, nhờ một người bạn ở Sơn La, tôi có thể thêm vào một vĩ thanh. Vũ nữ xòe Cầm Bạch Thiêm trong chiến dịch Điện Biên Phủ đã kết hôn với một sĩ quan tham mưu cấp trung đoàn. Nhưng viên sĩ quan hào hoa người Hà Nội đã sớm hy sinh. Miền Bắc giải phóng, Cầm Bạch Thiêm theo họ hàng di cư vào Nam. Mãi đến khi đất nước thống nhất, nghe đâu bà đơn lẻ trở về Tây Bắc ở với người cháu họ...
Vâng, trên là những gì tôi biết về Cầm Giang và đã thưa lại với cụ bà một nhan sắc xưa đã từng thu hút nhà thơ lưu tâm săn sóc và hy vọng vào khả năng sáng tác văn học.
Nắng chiều thu phương Nam hắt ngấn sáng chan chứa căn phòng. Người đàn bà với vội cặp kính màu, một cử chỉ duyên dáng thời thiếu nữ còn hắt bóng, để nhìn ngược sáng khỏi chói mắt. Tôi không dám tầm hiểu tiếp một câu chuyện mới của một nhan sắc với Cầm Giang. Chắc chắn giữa bà với nhà thơ có khoảnh khắc sâu sắc mà bất kỳ một tuổi trẻ và một tuổi trẻ biết gìn giữ và tôn trọng cái đẹp thực thể và vẻ đẹp trí tuệ cảm phục nhau.
Rót thêm cho tôi, bà tư lự.
- Đang ở trại sáng tác thì tôi nhận lệnh chuyển công tác về. Người yêu tôi - một thủy thủ đang chờ đợi một đám cưới. Cầm Giang đẩy xe đạp thồ hành lý giúp, tiễn tôi hơn bảy cây số đường rừng ra ga xe lửa. Anh ấy bảo, nếu không có điều kiện sáng tác, thì hãy đọc, hãy yêu văn học như đã từng yêu cũng là một điều hạnh phúc không phải ai cũng có được...
Tự thân văn chương đã ắp bất ngờ và ly kỳ. Số phận những con người tạo tác nên những áng thơ văn để đời nhiều khi còn vượt lên tất cả những gì họ có thể tưởng tượng. Và Cầm Giang ngay cả khi khuất đi rồi, vẫn còn để lại bao nhiêu băn khoăn, vướng bận cho người đời truy tìm căn nguyên của những huyền hoặc…
Tháng 8.2007- tháng 2.2012
Nguyễn Tham Thiện Kế
( Rút trong tập chân dung văn nghệ: Miền lưu dấu văn nhân)

vnp_hoi_hoa_xuan_ecopark_2019_1
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com