bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
BÀI VIẾT MỚI
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

Anh Bá Tân sướng thật                   Còn sướng hơn cả VUA        &n...

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BÁC ĐINH Y VĂN ĐỒNG HƯƠNG GIA VIỄN MẤY LẦN HỌA THƠ1 TRÊN ĐẦU DÙ TÓC TRẮNG PHƠ NỤ CƯỜI TRAI TRẺ BẤT NGỜ...LẠI TƯƠI!

 

Đinh Y Văn

XIN ĐƯỢC VUI CÙNG BÁC VŨ NHO Mái đầu nay đã phơ phơ trắng Mười hai năm như chớp vụt nhanh Nhớ “sóng vườn xanh, thơm suối tỏa” Nụ cười ánh mắt…lại như anh! Đinh Y Văn

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN TÁC GIẢ THÁI BÁ TÂN!ĐÁNG SUY NGẪM!

 

VŨ NHO 085 589 0003

 CÓ MÀU SẮC TỰ TRUYỆN.EM RỂ VÀ ANH CON TRAI QUẢ LÀ LÁO HẾT CHỖ NÓI!MAY MÀ PHÚC NHÀ NGƯỜI VIẾT CÒN DÀY NÊN KẾT CỤC COI NHƯ CÓ HẬU.

 

VŨ NHO 085 589 0003

PHƯƠNG ĐÔNG TUỔI MỤ RÁT HAYHƠN ĐỨT CÁI BÀI TÍNH TUỔI PHƯƠNG TÂY!HƠN CHÍN THÁNG PHẢI TÍNH NGAYTƯƠNG DƯƠNG MỘT TUỔI! RẤT HAY...TUYỆT VỜI!

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 58
Trong ngày: 651
Trong tuần: 2916
Lượt truy cập: 1795627

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN TRƯỜNG

 anh_ng.truong

NHỮNG BÔNG MAI NỞ MUỘN
​Truyện ngắn của Nguyễn Trường
​Tôi có hai truyện ngắn, một viết về mẹ với tựa đề “Quà tặng tương lai”, một viết về cha là “Di cảo của cha”. Tôi vẫn muốn viết một truyện về người vợ “tào khang” của mình với biết bao kỷ niệm mà chưa biết bắt đầu từ đâu.
​Tôi cưới nàng kể cũng ngót nửa thế kỷ rồi, con cháu đề huề, bản thân đã vào lứa tuổi “Thất thập cổ lai hy”. Một hôm, nàng tìm được tấm hình chụp hơn nửa thế kỷ trước, lúc nàng còn là học sinh trung học. Bức hình đen trắng hơi mờ vì năm tháng, nàng đố tôi nhận ra mình. Đó là tấm hình nàng chụp chung với khoảng ba mươi bạn nam nữ dưới mái trường Bình Phước, tỉnh Long An, hồi còn chiến tranh. Bằng sự linh cảm, tôi chỉ ngay người đứng dưới cây cột, người thứ tư hàng thứ hai tính từ phải sang trái. Thấy tôi chỉ đúng, nàng tỏ ra thích thú, mắt chớp chớp rồi nước mắt chợt ứa ra. Mới đó mà đã gần trọn một đời người...
​Tôi nắm tay nàng san sẻ và tự kiểm điểm mình. Suốt cuộc đời sống bên nàng, tôi có làm gì trái với lương tâm không, có lỗi gì với nàng không? Tôi là anh chiến sĩ miền Bắc vào chiến trường miền Nam. Chúng tôi được dạy về công tác dân vận: muốn được nhân dân miền Nam thương yêu, che chở thì phải có hiếu với dân, không được tơ hào dù cái kim sợi chỉ. Đóng quân trong nhà dân, chúng tôi dậy sớm quét dọn nhà cửa sân vườn, xách nước đổ đầy các chum vại. Việc chúng tôi được dân tin yêu là có thật.
​Vợ tôi dáng người nho nhỏ, hơi gầy. Nàng bị bệnh huyết áp cao. Một bữa, tôi đang ngồi viết truyện ngắn về nàng ở tầng dưới trong cơn mưa rào mát mẻ. Qua linh tính, tôi bỗng nghe có tiếng rên nho nhỏ. Không hiểu sao lúc đó tai tôi lại thính đến thế. Tôi bỏ máy chạy đi tìm vợ. Tầng dưới không thấy, dưới bếp cũng không. Cổng ngoài thì khóa. Nàng đang ở đâu?
​Tôi chạy lên sân thượng thì thấy nàng đang nằm sóng xoài dưới sàn gạch, người sũng nước. Tôi vội ôm lấy nàng chạy vào nhà. Chân tay nàng lạnh ngắt, không còn biết gì nữa. Tôi vội thay quần áo ấm cho nàng rồi gọi điện thoại cho em ruột nàng đang ở ngôi nhà gần đó. Chúng tôi lấy dầu nóng xoa khắp người nàng. Tôi vội gọi cho bác sĩ hỏi về tình trạng của nàng. Bác sĩ bảo hãy chở ngay đến bệnh viện cấp cứu.
​Lần đó nàng lên phơi áo trên sân thượng, không may bị đột quỵ té nhào xuống nền gạch, đầu bị sưng một cục như trái ổi. Một trận mưa trút xuống, nước mưa lạnh đã làm nàng tỉnh dậy và rên la giúp tôi nghe thấy. Nếu không có cơn mưa, nằm thêm chút nữa qua "thời gian vàng", nàng khó mà qua khỏi. Và nếu tôi không nghe được tiếng rên của nàng mà tiếp tục ngồi viết nốt thiên truyện, để nàng nằm dưới mưa thêm một lúc nữa bị nhiễm lạnh, chắc tôi đã vĩnh viễn mất nàng. Cảm ơn trời bữa đó đã cho tôi sự linh cảm tuyệt vời!
​Nàng có sáu chị em, là chị Hai, nàng quán xuyến đàn em thay người mẹ đã ra đi quá sớm khi nàng mới mười ba tuổi, đứa em út còn đang trong nôi.
​May mắn thay, bệnh viện đã cứu được nàng, nhưng từ ấy nàng yếu hẳn. Khi xuất viện, nằm trong tay tôi, nàng rơm rớm nước mắt: “Cảm ơn anh đã cứu em.” Tôi siết chặt tay nàng: “Anh vẫn còn nhớ ơn em. Năm ấy nếu không có em, anh cũng khó mà sống đến ngày hôm nay.”
​Câu chuyện nàng cứu tôi đã xảy ra hơn nửa thế kỷ trước. Đó là thời đất nước còn ngập trong khói lửa chiến tranh. Câu chuyện đó tôi đang viết dở dang thì nàng bị đột quỵ như tôi vừa kể...
​Nhà Tuyết có rặng dừa nước xanh um, tàu lá ken dày vươn lên trời, che khuất cả ánh nắng. Người ngồi trên thuyền len lỏi trong rừng dừa nước sẽ có cảm giác mát rượi, vô cùng sảng khoái. Loại dừa này toàn lá, lá vươn thẳng đứng, ken chặt che kín bầu trời, nên người ta gọi xóm nhà Tuyết là xóm “Đám lá tối trời”. Nơi đây là chốn che chắn cho lực lượng Cách mạng bám trụ chiến đấu. Đã bao lần quân đội Sài Gòn tấn công vào rừng dừa nước này nhưng đều thất bại vì bị các tay súng Giải phóng nấp sau vạt dừa nước bắn trả quyết liệt, phải ôm "đầu máu" rút lui.
​Nhà Tuyết ở ven bờ kinh, nấp bên rặng dừa nước tùm lum xanh mát, luôn dịu mát dù bên ngoài trời đổ nắng chang chang. Ba nàng thường đợi con nước lên quây lưới ven bờ dừa; khi nước rút trơ lại bãi phù sa cũng là lúc chị em nàng xắn quần ào xuống bắt những chú tôm búng càng lách tách, những chú cá rô to trùi trũi, những chú cá lóc mập đến nỗi đầu đuôi bằng nhau. Chẳng mấy chốc xô đã đầy cá tôm. Chị em nàng gọi nhau í ới, có khi bị chú cá lóc quẫy bắn bùn tung tóe làm khuôn mặt trái xoan, trắng hồng của Tuyết lấm tấm bùn đất. Tuy vậy nàng rất vui vì bắt được nhiều cá.
​Nhà nàng ít khi phải đi chợ vì sẵn cá, rau trong vườn cùng mấy đàn gà. Nhiều bữa mẹ nàng còn mang ra chợ bán bớt gà kèm theo xô cá tôm, có khi là chục trái mãng cầu xiêm đã chín nhũn.
​Hôm nay nàng cùng cha lợp lại mái nhà. Mùa mưa sắp đến, thường bắt đầu từ cuối tháng Tư dương lịch, nên cha nàng phải lo thay mái lá đã mục. Hai em còn nhỏ đảm nhận nhiệm vụ chuyền lá lên mái. Tuyết ngồi trên đòn tay phía dưới, ba nàng ngồi phía trên. Ba nàng nhận cặp lá, khéo léo sắp xếp cho sống lá khít vào nhau, cặp lá xuôi che kín mít để nước mưa chảy dọc theo chiều lá xuống mái. Lá dừa nước ở đây khá tốt, không bị sâu, bởi thế thường ba năm nhà Tuyết mới phải lợp lại một lần. Ở trong nhà lợp dừa nước thì không vật liệu nào lý tưởng bằng, dù giữa trưa nắng chói chang vẫn thấy mát mẻ như buổi bình minh mùa thu.
​Ba nàng xếp tàu dừa rất khéo, Tuyết chỉ còn việc dùng lạt — cũng làm bằng bập dừa nước chẻ ra, phơi chưa khô hẳn nên dẻo hơn cả lạt tre — cột sống lá vào đòn tay rồi siết chặt lại.
​Hôm nay có khác, tiếng súng bắn nhau giữa hai phía ít hẳn. Hình như có cái gì đó không bình thường sắp diễn ra. Qua đài phát thanh, Tuyết biết quân Giải phóng đã tiến về ven Sài Gòn. Ngày hòa bình không còn xa nữa. Tuyết vừa làm vừa ngóng về phía chợ Ngã Tư — trung tâm của xã. Lòng Tuyết ngổn ngang trăm mối. Liệu anh Dũng có về? Anh còn sống không? Dễ đến ba năm rồi nàng không nhận được tin tức gì của anh.
​— Cột đi chớ, nhìn cái gì mà như mất hồn vậy con?
​Tiếng ba nàng nhắc làm nàng giật mình trở về thực tại. Nàng chợt cười thầm vì ba đã xếp cặp tàu lá kế cận mà mình chưa kịp cột. Nàng cuống quýt cột thật nhanh để theo kịp cha. Chợt cha nàng la lên:
​— Ơ kìa, cờ trắng! Phe Quốc gia đầu hàng rồi!
​Tuyết giật mình ngẩng nhìn về phía chợ Ngã Tư. Quả là có rất nhiều cờ trắng kéo lên. Thảo nào nãy giờ đài phát thanh Sài Gòn nghe rè rè, khục khặc rồi im bặt. Tuyết cứ tưởng đài bị hư. Nàng có chiếc radio nhỏ để nghe tin tức thời sự. Mấy năm nay nàng chăm chú nghe thời sự, vì lý do gì chỉ riêng nàng mới biết.
​— Thôi không lợp nữa, xuống ăn mừng đi con, hòa bình đến rồi!
​Nàng còn mừng hơn cha và các em. Hòa bình rồi, hết đau thương tang tóc rồi! Từ đây gia đình nàng không phải chạy giặc, không còn nguy hiểm nữa. Anh Dũng sẽ về, nàng đã trông đợi anh đến mỏi mòn. Anh ơi, hãy về với em ngay anh nhé!
​Đã ba năm xa anh, nàng thấy dài như cả thế kỷ. Thi thoảng nàng cũng nhận được tin anh do người chú họ nhắn về. Chú Bảy Nê cùng đơn vị với anh. Cách đây ba năm, trong một trận đánh ở cầu Quản Lê, đơn vị của anh bị địch bao vây, quân số ít nên phải rút lui, cấp trên giao cho chú Bảy ở lại chặn địch. Chú Bảy vốn gan lì, một mình chống trả cả đại đội đối phương. Đến khi hết đạn, chú đập gãy súng và bị bắt. Chú gan dạ không chịu khai hướng rút lui của đơn vị nên bị chúng tra tấn cho đến chết. Chúng bỏ xác chú bên bờ đìa. Nửa đêm, ba Tuyết cùng chú Sáu bò ra chở xác chú về chôn. Mộ của chú được ngụy trang sau vườn dừa nước.
​Tội nghiệp chú! Tuyết nhớ hồi ấy chú ở trong đơn vị đặc công của tỉnh. Ngày ấy gia đình Tuyết bị gom vào ấp chiến lược. Ấp ở chợ Ngã Tư, có tám ấp bao quanh một cái đồn địch; chúng dùng dân để bảo vệ vòng ngoài. Bữa đó chị em Tuyết đang ngủ say thì nghe tiếng gõ cửa. Ba nàng ra mở cửa và ngạc nhiên thấy chú Bảy ào vào nhà nhanh như cơn lốc. Chú nói đơn vị chú sắp đánh đồn, nhắc cả nhà chuẩn bị phòng tránh. Chứng tỏ chú rất thương và lo cho gia đình Tuyết.
​Tiếng chú vừa dứt thì một tiếng ầm long trời lở đất vang lên, đạn nổ dậy đất. Chú Bảy vội vọt ra ngoài, tiếng súng AK của chú giòn giã. Chú đánh từ trung tâm đánh ra. Sau này gặp lại, chú kể đó là cách đánh “nở hoa trong lòng địch”. Chú còn kể nhiều chuyện vui lắm, như hôm chú bò vô ấp chiến lược, nằm sát hàng rào kẽm gai, tụi lính đi tiễu đái cả lên đầu chú khai rình mà chú vẫn cắn răng chịu. Chúng làm chú giật mình vì đái xong, tên lính còn hô: “Đ.m Việt Cộng, bắn bỏ!”. Chuyện của chú vui và hấp dẫn làm chị em Tuyết cười đau cả bụng.
​Vậy mà nay chú đã hy sinh rồi. Tuyết khóc khô cả nước mắt, vừa thương chú, vừa thương anh Dũng, vì từ nay Tuyết không còn nhận được tin tức về anh nữa.
​Cũng nhờ chú mà Tuyết quen anh. Hồi ấy, sau một trận đánh khói lửa mù trời, Tuyết hoảng hồn thấy có bóng người chạy vào vườn dừa nước nhà mình. Trời ơi, chú Bảy! Chú đang dìu một thương binh máu me bê bết. Tiếng súng địch ở rất gần, rõ ràng chúng đang tiến về phía nhà Tuyết. Có lẽ địch đã phát hiện ra Việt Cộng chạy về xóm này. Chết rồi, phải cứu chú Bảy! Lúc đó không hiểu sao Tuyết lại gan và nhanh đến vậy. Tuyết cào đống bập dừa nước trên tăng-xê nhà mình, bảo chú Bảy chui vào đó. Nhà Tuyết có cái tăng-xê to rộng, có thể ẩn náu cả gia đình. Bên trên đắp đất dày, ba nàng còn cẩn thận chất bập dừa khô xốp để nếu có trúng bom pháo cũng không bị sập.
​Còn anh bộ đội bị thương, giấu anh ở đâu đây? Tuyết nhìn thấy cây rơm cao to như mái nhà, liền dìu anh đến đó. Tuyết cùng Mai và Thủy cố đẩy anh lên ngọn cây rơm. Nàng nói với anh:
​— Anh ráng leo lên trên đỉnh, chui vào trong lõi cây rơm nghen!
​Anh bộ đội nghe lời, cố sức phóng lên. Nàng cẩn thận vơ những cọng rơm dính máu nhét vào chỗ kín đáo. Xong việc, nàng chạy nhanh vào buồng thay bộ áo dài trắng có thêu tên trường nàng theo học. Hồi đó lính Sài Gòn hung hăng là thế nhưng rất nể nữ sinh. Còn Mai và Thủy thì vội thả đàn gà ra đầy vườn.
​Quả nhiên chỉ mấy phút sau, bọn lính tràn vào, mặt mày hung tợn, súng lăm lăm trong tay.
​— Có thấy Cộng sản chạy vào đây không? — Tên chỉ huy hỏi.
​Tuyết bình tĩnh tỏ vẻ ngạc nhiên, lắc đầu:
​— Em không thấy ai vô đây. Nghe tiếng chó sủa ngoài bờ cộ, chắc Cộng sản chạy hướng đó.
​Tên chỉ huy không tin, khoát tay ra lệnh:
​— Anh em kiểm tra cẩn thận quanh khu này! Rõ ràng là chúng chạy về hướng này chứ đâu. Ê em gái, em mà giấu Cộng sản là bị bắn bỏ cả nhà đó, nghe rõ chưa?
​Tuyết thấy tim mình đập mạnh. Chết thì Tuyết không sợ, nhưng còn ba má, còn các em... Chúng mà tìm thấy chú Bảy và anh Giải phóng bị thương thì rõ ràng chị em Tuyết giấu Cộng sản, chúng sẽ giết sạch cả nhà. Rõ ràng chúng không dọa.
​Nghe lệnh chỉ huy, một trung đội lính tản ra tìm kiếm. Chúng chui xuống hầm, xộc vào đống rơm, lùng sục khắp xó xỉnh. Nhằm phân tán sự chú ý của chúng, Tuyết bắt con gà trống to nhất đàn trao cho tên chỉ huy, nói:
​— Bồi dưỡng cho mấy anh đó.
​Tên chỉ huy nhìn Tuyết lom lom, nuốt nước miếng đánh ực. Ba nàng thấy thế xách dao bước ra. Tên chỉ huy có vẻ ớn, đổi giọng làm bộ ga-lăng theo kiểu tuồng cải lương:
​— Cảm ơn em gái hậu phương. Em ngoan lắm. Hòa bình anh sẽ về thăm em nghen!
​Những tên lính khác thấy sếp có gà liền lo đi dí đàn gà nhà Tuyết. Mấy chị em nàng cũng dí gà giúp bọn lính. Một lúc sau, chúng bắt gần hết đàn gà rồi kéo nhau đi. Hú vía!
​Chú Bảy và ba nàng dìu anh bộ đội từ cây rơm xuống. Anh bị thương ở ngực và chân. Nàng vội xé tấm áo trắng của mình băng vết thương cho anh. Anh còn trẻ lắm, mặt tròn, cằm phơn phớt hàng ria mềm, đôi mắt sáng có vẻ rất thư sinh. Chiều đó nàng ra chợ mua thuốc kháng sinh về chích cho anh. Không hiểu sao Tuyết lại gan thế, lần đầu tiên chích thuốc mà nàng không hề run tay.
​Trong nhà còn chai mật ong thơm mùi hoa tràm, ngọt thanh thanh chứ không ngọt gắt như mật ong pha đường. Mật ong có chất kháng sinh tự nhiên, giúp vết thương chóng lành. Nàng dùng mật ong bôi vào vết thương cho anh. Tuyết làm khéo lắm, dù bị thương nặng và rất đau, nhưng dưới bàn tay mềm mại của Tuyết, anh cảm thấy vô cùng dễ chịu.
​Chú Bảy thấy anh bộ đội được các cháu chăm sóc chu đáo thì yên tâm dặn Tuyết:
​— Các cháu giúp chú chăm sóc anh Hai Dũng, ảnh còn yếu nên chú chưa thể đưa đi được. Chú về đơn vị, hôm sau đem xuồng về rước anh Hai nhen.
​Tuyết cười tươi:
​— Chú yên tâm, chúng cháu sẽ chăm sóc đồng đội chú chu đáo.
​Từ bữa đó, chị em Tuyết bận rộn lo cho anh. Đứa thì làm thịt gà nấu cháo, đứa thì chăm sóc vết thương. Hai ngày sau, vết thương bớt sưng, anh bộ đội ăn được cháo và tươi tỉnh trở lại. Anh cho biết mình là người Hà Nội, nhà ở phố cổ Hàng Bông. Tuyết từng học bài Hà Nội có ba mươi sáu phố phường nên hỏi anh:
​— Có phải phố Hàng Bông chuyên bán hoa không anh?
​Anh cười thật hiền:
​— Ngày xưa thì có thể thế, nhưng ngày nay không chỉ bán bông mà người ta còn bán đủ thứ nữa.
​— Ước gì có ngày em được ra Thủ đô Hà Nội thăm phố cổ của anh... — Không hiểu sao Tuyết lại thốt lên câu đó.
​Anh bộ đội nở nụ cười:
​— Mong ngày hòa bình thống nhất để anh được đón em cũng như nhân dân miền Nam ra thăm Thủ đô.
​— Là người Việt Nam, ai cũng mong muốn có ngày hòa bình, Bắc — Nam sum họp.
​Nàng nói thật lòng. Những ngày chiến tranh, có nhiều đêm cả nhà nàng phải mang chăn chiếu ra đồng ngủ vì sợ xảy ra chiến sự trong rừng dừa nước. Đã có lần một quả pháo rơi trúng nhà, mảnh pháo xé rách tấm ván chỉ cách đầu ba nàng đang ngủ vài xentimét. Thật khủng khiếp!
​Mấy ngày anh bộ đội ở nhà nàng làm cho không khí vui như Tết. Các em nàng lo mua thuốc — thứ kháng sinh thời đó rất khó mua, dễ bị địch nghi ngờ. Nàng lo làm thịt gà, nấu cháo bồi dưỡng cho anh chóng khỏe. Mai thì lo rửa vết thương, băng bó lại. Có đêm anh đau, thở khò khè, nàng ngồi bên anh đến sáng để an ủi và chăm sóc. Có đêm gần sáng anh mới ngủ được, tiếng ngáy đều đều. Chợt anh kêu nho nhỏ trong giấc mơ: “Mẹ ơi...”, tay vươn ra như đón mẹ rồi vô tình ôm choàng lấy Tuyết.
​Nàng cười thầm: Cứ cho em là “mẹ” đi, anh có vui không? Trong vòng tay anh, em sẽ là người “mẹ yêu quý nhất đời” của anh. Anh vẫn ngủ say, không biết rằng mình đang ôm eo Tuyết. Nàng bỗng thấy lòng dạt dào thương mến: Anh cứ ngủ ngon đi, ngày mai lại ra trận. Em mong có ngày anh ôm em như vầy, trong giấc ngủ say và cả lúc anh thức nữa...
​Hòa bình đã hiện hữu trên quê hương. Còn anh, cầu trời cầu Phật cho anh còn sống để về với em! Anh có nhớ không, hôm chia tay trở về đơn vị, anh đã hứa hòa bình sẽ về thăm gia đình em, hứa đưa em ra thăm Thủ đô Hà Nội, thăm ba mươi sáu phố phường. Anh có còn nhớ lời hứa năm xưa hay đã quên rồi?
​Suốt từ sáng ngày 30 tháng 4 cho đến chiều, Tuyết cứ đi ra đi vào, lòng nóng như lửa đốt. Đã sắp hết mùa xuân rồi, trời bắt đầu đổ mưa báo hiệu mùa hè đang đến. Anh đang ở đâu?
​Mãi đến gần tối, Tuyết bỗng thấy một người lính khoác ba-lô vội vã đi về xóm nhà nàng. Tuyết kêu to cho các em nghe:
​— Tụi bay ơi, hình như anh Dũng về nè!
​Mấy đứa em nàng chạy ùa ra sân. Chúng hiểu tấm lòng của chị nên cũng mong anh sớm trở về.
​Đúng là anh Dũng rồi! Tuyết chạy ào ra nắm lấy tay anh. Ba năm rồi, anh có vẻ rắn rỏi hơn, không còn nét thư sinh như ngày xưa. Nàng cười mà nước mắt nhòa lệ. Dũng nhìn nàng, lòng dạt dào cảm xúc. Nàng đã lớn hẳn lên, xinh đẹp hơn xưa; các em nàng cũng trổ mã thành thiếu nữ hết cả, cô nào cũng đẹp. Anh muốn reo lên: “Các em ơi, hết chiến tranh rồi, hết khổ rồi! Anh có về muộn, nhưng mùa xuân vẫn còn!”
​Trong vườn nhà nàng, mấy bông mai nở muộn vàng óng ánh, hứng lấy tia nắng cuối cùng hắt lên sáng lung linh...
​Đến đây, chắc bạn đọc đã biết, Tuyết chính là người vợ tào khang của tôi, và anh bộ đội Dũng năm xưa chính là tôi của ngày hôm nay. Năm ấy, nàng và gia đình đã đối mặt với hiểm nguy tính mạng để che chở cho tôi. Vì thế, việc tôi kịp thời phát hiện và cứu nàng qua cơn đột quỵ vừa rồi thật chẳng thấm vào đâu so với ơn sâu nghĩa nặng năm xưa. Đi qua hơn nửa thế kỷ chia ngọt sẻ bùi, lòng tôi vẫn vẹn nguyên niềm khắc ghi ấy. Cảm ơn đời đã cho chúng tôi đi qua khói lửa chiến tranh, để hôm nay, ở cái tuổi 'thất thập', chúng tôi vẫn được nắm tay nhau bình yên nhìn những bông mai nở muộn trong khoảng sân nhà.

 
vnp_hoi_hoa_xuan_ecopark_2019_1
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com